|

Vào khoảng thập niên 1950 - 60,
miền nam có một bán nguyệt san khá nổi tiếng. Ðó là tờ Phổ Thông làm
theo dạng gần giống như Selection của Pháp hay Reader’s Digest của Mỹ.
Thông thường mỗi số có những bài bình luận, thơ văn, biên khảo và một
hai truyện dài đăng tải nhiều kỳ. Chủ nhiệm kiêm chủ bút là văn kiêm
thi sĩ Nguyễn Vỹ.
Thời tiền chiến, Nguyễn Vỹ không mấy nổi tiếng
nên cũng ít người nghe danh ông. Tuy nhiên, khi chủ trương tờ Phổ
Thông, ông đã có một số lớn độc giả và được kể là một trong những tạp
chí khá „phổ thông“ ở miền Nam, cung cấp những món ăn tinh thần cho đại
chúng trong một thời gian khá lâu, tới khi ông qua đời (1971) thì tờ
báo đình bản.[1] Nguyễn Vỹ còn thành lập một thi đoàn theo trường phái
mà ông đặt tên là Bạch Nga.
Sở trường của ông là những biên khảo
lịch sử nho nhỏ. Trong loạt bài dài „Tuấn, chàng trai nước Việt“ kể lại
việc xảy ra hồi đầu thế kỷ „ nửa hồi ký, nửa tiểu thuyết, cũng là một
thứ tài liệu về xã hội Việt Nam thời Pháp mới sang „ ông viết khá trung
thực, có duyên, nhiều chỗ hóm hỉnh. Ông lại viết một loạt nghiên cứu
ngăn ngắn dưới nhan đề „Mình ơi“- ký bút hiệu (cô) Diệu Huyền -- lấy
lời đối đáp của một cặp vợ chồng trẻ để trình bày vấn đề. Một
trong những bài ông viết về cà phê và sự tích li kỳ của giống cây này
khi truyền qua Nam Mỹ, biến vùng đất mới tìm ra này thành một vùng
chuyên trồng loại hạt để làm thức uống mà nhiều người trong chúng ta
phải có hàng ngày. Thành thử, khi tìm thấy một quyển sách viết về cà
phê trong một tiệm sách cũ, chúng tôi cảm thấy như một hồn ma cũ hiện
về. Tuy người viết không uống cà phê đã lâu, chẳng dám múa rìu qua mắt
thợ về cách điều chế loại ẩm phẩm không thể thiếu của nhiều người nên
chỉ lược thuật chủ yếu về sự tích vây quanh cây cà phê theo sách vở để
người đọc biết thêm một vài chi tiết.
Hiện nay theo thống kê,
nước Mỹ là quốc gia tiêu thụ cà phê nhiều nhất thế giới „ 1/3 số cà phê
xuất cảng của thế giới được bán ở Hoa Kỳ. Theo những số liệu của thị
trường quốc tế, tiền trao đổi trong buôn bán món hàng này và những sản
phẩm liên quan đến nó chỉ kém dầu hỏa mà thôi và việc trồng trọt chế
biến món đặc sản này là công ăn việc làm của hơn 20 triệu người trên
toàn thế giới. Ngay từ cuối thế kỷ 19, tại Mỹ đã bán những hộp cà
phê xay sẵn, mỗi hộp 1 pound nhãn hiệu Arbuckles Coffee, nổi tiếng và
thông dụng trong thành phố cũng như dọc theo các tuyến đường xe ngựa.
Ðến đầu thế kỷ 20 thì cà phê là thức uống buổi sáng hầu như cho mọi gia
đình. Trong khi xì gà 5 cents đã biến mất trên thị trường thì cà phê 5
cents một ly vẫn còn thông dụng ở nhiều tiệm ăn và hàng quán (với ly
thứ hai được miễn tính tiền theo truyền thống). Tới khoảng 1976 „ 1977,
vì Brazil bị mấy kỳ sương muối (frosts) nên cà phê mất mùa, giá cả tăng
vọt lên nhưng sau đó lại giảm xuống. Mấy năm gần đây giá cả còn hạ nữa,
một phần vì nhiều nước Á Châu bước vào thị trường, sản xuất với giá rẻ,
trong đó Việt Nam được kể là một địch thủ đáng ngại của cà phê Nam Mỹ. Sau
thế chiến thứ hai, công nhân Hoa Kỳ đã quen với những ly cà phê nghỉ
giải lao mà người ta gọi là „coffee break“ và thói quen này chẳng mấy
chốc lan ra nhiều quốc gia khác và trở thành một sinh hoạt không thể
thiếu trong thời khóa biểu của công việc. Trong lịch sử loài người
cà phê cũng đóng nhiều vai trò quan trọng, từ việc dùng như một thức
uống để tỉnh ngủ khi học thi tới chốn hẹn hò của những cặp tình nhân
cần tâm sự. Kinh tế của nhiều quốc gia cũng lên xuống theo nông phẩm
này. Tại Pháp và những xứ chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp, người ta
thích uống cà phê đậm đặc, có khi thêm sữa trong khi nhiều quốc gia
khác lại chuộng loại pha nhạt uống thay nước hàng ngày. Cà phê cũng đem
đến nhiều kiểu cách trong việc chế tạo dụng cụ, tuy chưa phong phú như
các loại ấm trà nhưng cũng đã có nhiều người sưu tầm.
LỊCH SỬ
Câu
chuyện về cà phê thì rất nhiều, thực hay hư cũng ít ai kiểm chứng. Hoặc
giả nhiều khi người ta phóng đại những chuyện nhỏ thành chuyện lớn cho
„mùi“ cà phê thêm đậm đà, chẳng hạn như „cà phê dãi chồn“ mà dân ghiền
người Việt thường kể cho nhau nghe. Câu chuyện lãng mạn hơn cả có lẽ là
truyện một anh chàng chăn dê tên là Kaldi, người xứ Abyssinia. Một hôm
anh ta ngồi trên một tảng đá cạnh một sườn núi bỗng nhận ra đàn dê vốn
dĩ ngoan ngoãn hiền lành của mình đột nhiên có vẻ sinh động lạ thường.
Sau khi đến gần quan sát kỹ hơn, Kaldi thấy những con dê đã đớp những
trái màu đo đỏ ở một cái cây gần đó. Anh ta cũng liều lĩnh bứt một vài
trái ăn thử và cũng thấy mình hăng hái hẳn lên, tưởng như tràn đầy sinh
lực. Người chăn dê nghĩ rằng mình đã gặp một phép lạ, vội vàng chạy
về một tu viện gần đó báo cho vị quản nhiệm. Nhà tu kia sợ rằng đây
chính là một thứ trái cấm của quỉ dữ, lập tức vứt những trái cây chín
đỏ kia vào lò lửa. Thế nhưng khi những hạt kia bị đốt cháy tỏa ra một
mùi thơm lừng, người tu sĩ mới tin rằng đây chính là một món quà của
Thượng Ðế nên vội vàng khều ra và gọi những tăng lữ khác đến tiếp tay.
Những hạt rang kia được pha trong nước để mọi người cùng được hưởng
thiên ân. Cà phê vốn dĩ mọc hoang trong vùng Abyssinia và Arabia.
Trước thế kỷ thứ 10th, thổ dân thường hái ăn, dùng như một loại thuốc
kích thích. Trái cà phê chín được giã ra trộn với mỡ súc vật nặn thành
từng cục tròn để dùng làm thực phẩm khi đi đường xa. Về sau cà phê được
dùng làm thức uống nhưng cũng khác phương cách ngày nay. Thời đó người
ta chỉ ngâm nước những trái cà phê rồi uống, mãi tới thời trung cổ
người Ả Rập mới biết tán ra bỏ vào nước sôi. Thức uống đó chẳng mấy
chốc trở nên nổi tiếng và người Ả Rập rất tự hào về phát minh này và
giữ bí mật để bảo tồn độc quyền một loại sản phẩm. Những khách hành
hương được thưởng thức nước cà phê đã lén lút đem hạt giống về trồng
nên chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Ðông đều có trồng, và truyền đi
mỗi lúc một xa hơn nữa. Vào thế kỷ thứ 13, cà phê đã thành một thức
uống truyền thống của người Ả Rập. Những quán cà phê „ với tên là
qahveh khaneh „ hiện diện khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị. Những
quán đó trở thành những nơi sinh hoạt, với đủ loại giải trí từ âm nhạc
đến cờ bạc và các triết gia, chính trị gia, thương gia thường lui tới
để tụ tập bàn thảo sinh hoạt xã hội và công việc làm ăn. Thế nhưng
khung cảnh nhộn nhịp của các „hộp đêm“ cũng làm cho giới cầm quyền e
ngại. Sợ rằng những tay đối lập có thể tụ họp bàn chuyện chống đối nên
nhiều lần triều đình đã ra lệnh cấm và đóng cửa các coffee houses này
nhưng không thành công. Không những thế, việc cấm đoán lại còn khiến
cho việc uống cà phê trở thành thói quen của thường dân vì từ nay một
số đông sợ rắc rối nên uống ở nhà, kiểu cách uống cũng được nghi thức
hóa. Những thương gia đi tới những quốc gia Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ nay
đem cái thói phong lưu này về bản xứ. Âu châu nay cũng uống cà phê.
Kiện hàng mang cà phê được ghi nhận lần đầu tại Venice vào năm 1615 do
Thổ Nhĩ Kỳ gửi đến. Khi cà phê lan tới Rome, một lần nữa các nhà tu lại
kết án đây là một thức uống của ma quỉ (the drink of the devil), và
việc tranh chấp gay go đến nỗi Giáo Hoàng Clement VIII phải yêu cầu đem
đến một gói cà phê mẫu để chính ông dùng thử. Vị chủ chiên kia chỉ mới
uống một lần đã „chịu“ ngay và thấy rằng thật ngu xuẩn xiết bao nếu cấm
giáo đồ Thiên Chúa không cho họ uống cà phê. Ðược Giáo Hoàng chấp
thuận, số người uống cà phê lập tức gia tăng và chẳng bao lâu quán cà
phê đầu tiên ở Âu Châu được khai trương tại Anh Quốc năm 1637 do một
doanh gia tên là Jacob (người Do Thái, gốc Thổ Nhĩ Kỳ) mở tại Oxford.
Kế đó là một quán cà phê khác ở London và rồi nhiều thành phố khác.
Người ta bảo rằng những quán đó rất dễ nhận vì dù còn ở xa xa đã ngửi
thấy mùi cà phê thơm nức, tới gần hơn thì bao giờ cũng có một bảng hiệu
với một ly cà phê nghi ngút hay hình đầu một vị tiểu vương xứ Trung
Ðông.
Những quán mở gần trường đại học bao giờ cũng đông nghẹt
giáo sư và sinh viên nên được gọi bằng cái mỹ danh „đại học một xu“
(penny universities) vì giá của một ly cà phê thuở đó chỉ có một penny
và người ta chỉ tốn bấy nhiêu cũng thu thập được rất nhiều kiến thức
qua những buổi „thuốc lá dư, cà phê hậu“, có khi còn nhiều hơn là miệt
mài đọc sách. Chẳng biết những lời tuyên bố đó có đúng hay không nhưng
truyền thống đó không phải chỉ nước Anh mà lan qua nhiều quốc gia khác,
cho chí Việt Nam , quán cà phê vẫn là nơi mà giới sinh viên hay đến để
suy tư qua khói thuốc nhiều hơn cả. Ðến cuối thế kỷ 17, hầu hết cà
phê trên thế giới đều nhập cảng từ các nước Ả Rập. Cũng như ngày nay
người ta kiểm soát dầu hỏa, vào thuở đó các nước Trung Ðông rất chặt
chẽ trong việc sản xuất và xuất cảng cà phê, và chỉ được mang hạt ra
khỏi xứ sau khi đã rang chín ngõ hầu không ai có thể gây giống để đem
trồng nơi xứ khác. Người ngoại quốc cũng bị cấm không cho bén mảng đến
những đồn điền cà phê. Thế nhưng dù có nghiêm nhặt đến đâu thì cũng có
người vượt qua được. Sau nhiều lần thất bại, người Hòa Lan là dân
tộc đầu tiên lấy giống được loại cây này đem về trồng thử trên đảo Java
(khi đó là thuộc địa của họ). Thế là giống cây quí đã truyền sang Âu
Châu mặc dù vẫn chỉ có thể trồng trong nhà kiếng. Năm 1723, một sĩ
quan hải quân Pháp trẻ tuổi tên là de Clieu, khi về nghỉ phép tại
Paris, đã quyết định đem cây giống này về xứ Martinique là nơi anh ta
đang trú đóng. Cây giống được mang về theo chiếc tàu xuôi nam để quay
về nhiệm sở. Chuyến đi đó nhiều gian nan, từ việc một gián điệp Hòa Lan
toan đổ một loại thuốc độc vào cây non, cho đến việc hải tặc chặn cướp
con tàu rồi khi tới gần điểm đến, chiếc thuyền lại gặp bão suýt bị chìm. Bĩ
cực thái lai, sau cùng de Clieu cũng thành công trong việc mang được
cây cà phê trồng một nơi kín đáo, cắt ba thủy thủ canh gác ngày đêm.
Cho hay trời cũng chiều người nên chẳng bao lâu cây đơm bông kết trái
và chỉ hơn 50 năm sau tính ra đã có đến 18 triệu cây cà phê trồng trên
hòn đảo này. Ngành buôn cà phê nay trở thành một cạnh tranh gay gắt
giữa Hòa Lan và Pháp và chính việc tranh chấp giữa hai nước đã đưa đến
một biến cố „ngư ông đắc lợi“. Trong khi hai nước có những bất đồng
không thể giải quyết, họ đã nhờ chính quyền Brazil đứng ra dàn xếp. Trong
hội nghị để phân biện giữa hai bên, Brazil đã gửi một sĩ quan trẻ tuổi
tên là Palheta đến làm đặc sứ. Palheta không những điển trai lại còn
lanh lợi, khéo nịnh đầm đúng như truyền thống của một nhà quí tộc, chỉ
trong ít ngày đã „tán“ dính ngay bà vợ của viên Thống sứ (Governor) đảo
Guiana thuộc Pháp và bí mật yêu cầu người tình lấy cho mình ít hạt
giống „làm kỷ niệm“. Trong buổi dạ tiệc tiễn đưa vị sứ thần, bà vợ viên
Thống sứ đã tặng cho Palheta một bó hoa theo đúng phép lịch sự của
Pháp, kèm theo một ám hiệu kín đáo. Nằm giữa bó hoa là những hạt cà phê
tươi mà người Brazil đang thèm thuồng. Và đây là khởi đầu cho giống cà
phê trồng tại Brazil, biến các quốc gia Trung, Nam Mỹ thành những đế
quốc cà phê lớn vào bậc nhất thế giới. Cà phê do người Hòa Lan
truyền đến Bắc Mỹ vào năm 1660 ở vùng New Amsterdam. Bốn năm sau, người
Anh chiếm vùng này và đặt tên là New York. Vào lúc đó, cà phê đã thành
một thức uống quen thuộc thay bia vào bữa ăn sáng. Quán cà phê đầu tiên
cũng theo dạng thức của Luân Ðôn, tương tự như một quán trọ, có phòng
cho thuê, cung cấp bữa ăn, có bán rượu, chocolate và cả cà phê. Quán
nào cũng có một phòng ăn chung nơi đó nhiều hoạt động công cộng được
thực hiện, dần dần trở thành nơi tụ tập bàn chuyện làm ăn. Thoạt
tiên, cà phê chỉ dành cho giới thượng lưu trong khi trà phổ thông hơn,
gần như khắp mọi tầng lớp. Thế nhưng đến năm 1773, khi Anh hoàng George
đánh thuế trà và người dân Mỹ nổi lên chống lại thì tình hình thay đổi.
Người Mỹ giả dạng làm dân da đỏ tấn công những tàu chở trà đem hàng hóa
đổ xuống biển. Biến cố lịch sử dưới tên Boston Tea Party đã làm cho
người Mỹ nghiêng qua uống cà phê và chẳng bao lâu thức uống này biến
thành một loại quốc ẩm.
CÀ PHÊ TRỒNG RA SAO?
Cà
phê là một loại cây ra trái có hạt mọc ở vùng nhiệt đới trong khoảng
250 bắc và 300 nam, tốt nhất là những vùng xưa có nhiều núi lửa, đất
vốn là phún xuất thạch (volcanic rock) chẳng hạn như Hawaii hay vùng
cao nguyên Việt Nam. Cây cà phê có thể mọc cao đến 30 feet (9 mét)
nhưng để cho tiện việc thu hoạch người ta thường tỉa và hãm cho cây ở
độ cao khoảng 4 đến 6 feet (1.2 đến 1.8 m) mà thôi. Cây cà phê không có
mùa nhất định, cùng một lúc vừa có hoa, vừa có trái, cả trái non lẫn
trái già. Mùi hoa cà phê thơm nhè nhẹ như hoa cam. Nếu trồng bằng
hột, cây non phải mất 4 đến 6 năm mới bắt đầu kết trái. Từ khi có hoa
đến khi thành từng chùm, cà phê cần một thời gian 2 tháng, và rồi dần
dần chín đỏ. Mỗi trái cà phê có một lớp thịt bao bên ngoài, bên trong
thường có hai hột như hình hai trái thận nằm cạnh nhau. Những hột đó
được bao bởi một vỏ cứng, bên dưới vỏ cứng còn một lớp màng mỏng. Cũng
có loại bên trong chỉ có một hột tròn gọi là Peaberry. Mặc dầu cây
trồng trong đồn điền chỉ được khoảng 40 năm nhưng nhiều cây để già hàng
trăm tuổi cũng vẫn còn ra trái. Cây sung sức nhất là vào khoảng 10 đến
15 năm, mỗi cây hàng năm được chừng 12 pounds (khoảng 5 kg) trái, sản
xuất khoảng 4 đến 5 pounds (1.7 đến 2.1 kg) cà phê hạt. Có hai giống cà phê chính trên thị trường: Arabica và Robusta Cà
phê Arabica (Coffea Arabica) là giống thông dụng được trồng nhiều nhất
trên thế giới, chiếm đến 75% thị trường. Giống này thích hợp với đất
thoai thoải trên sườn đồi, cần nhiều mưa và bóng râm. Trái cây cũng
cứng hơn nhưng vị thơm ngon và đậm đà. Các loại cà phê Arabica nổi
tiếng thường thấy là Jamaican Blue Mountain, Nicaraguan, Columbian
Medellin Excelso, Brazilian Santos, Ethiopian, Kenyan Peaberry, Indian
Monsoon Malabar, New Guinea. Cà phê Robusta (Coffea Canephora) trồng
ở cao độ thấp hơn cà phê Arabica và không thơm ngon bằng cà phê
Arabica. Theo thống kê năm 1997-98, Brazil đứng đầu trong sản xuất của
thế giới với 22.5 triệu bao (mỗi bao 60 kg), kế đó là Columbia 10.5
triệu bao, Indonesia 6.7 triệu bao, Việt Nam 5.8 triệu bao, Mexico 5
triệu bao, Ethiopia 3.8 triệu bao, India 3.8 triệu bao, Guatemala 3.5
triệu bao, Côte Divoire 3.3 triệu bao, Uganda 3 triệu bao. Tới năm
ngoái, Việt Nam tiến lên là quốc gia sản xuất cà phê Robusta đứng hàng
thứ nhì trên thế giới (15 triệu bao), chỉ sau Brazil nhưng giá trên thị
trường lại xuống thấp chưa từng có khiến cho thua lỗ nặng, nhiều người
phải phá hủy đồn điền để trồng loại hoa màu khác, hoặc đào rễ bán cho
các điêu khắc gia dùng tạc thành sản phẩm mỹ nghệ. Hiện nay một số nông
dân trong nước đang từ từ chuyển sang trồng giống Arabica. Các loại
thường thấy là Brazilian Santos, Cameroon.
CHẾ BIẾN
Mỗi
quốc gia có cách thu hoạch riêng và cho đến nay vẫn chưa có cách nào
hái trái bằng máy vì cà phê không cùng chín một lượt nên phải hái làm
nhiều đợt. Về việc chế biết người ta phân biệt hai cách Ướt và Khô. Cà
phê chế biến theo kiểu Ướt thơm ngon hơn cách làm Khô. Về cách Ướt
người ta rửa trái cà phê, sau đó bỏ vào máy để chà cho hết lớp thịt bên
ngoài. Sau đó hột cà phê được ngâm trong nước cho tróc vỏ và để cho lên
men trong khoảng 12 đến 24 giờ. Trái cà phê lại được rửa bằng nước sạch
cho đến lúc trôi hết lớp vỏ để nước thành trong. Trái cà phê khi đó mới
được đem ra phơi dưới nắng hay cho vào máy sấy. Sau cùng được đưa vào
máy xay cho tróc lớp vỏ cứng bên ngoài để chỉ còn hạt màu xanh. Những
loại cà phê của Columbia, Costa Rica và Kenya làm theo lối Ướt. Cách
Khô là cách thông dụng hơn và cũng cổ điển hơn. Sáu mươi phần trăm cà
phê trên thế giới điều chế theo cách này. Cà phê được rửa rồi trải ra
phơi nắng từ 2 đến 3 tuần, hàng ngày phải cào cho khô đều. Sau khi khô
hẳn, cà phê được đưa vào máy xay cho tróc vỏ cứng và lớp da mỏng bao
quanh hột ra. Riêng tại Yemen và Ethiopia, trái cà phê để khô trên cây
cho tới khi rụng xuống những tấm bạt trải dưới gốc. Cũng có khi vì nóng
lòng, người ta rung cây cho mau rụng. Sau đó họ theo phương pháp Khô
như ở trên. Người sành điệu chỉ cần nhấp môi là biết cà phê được chế
biến theo cách nào. Sau khi đã có được hột cà phê xanh, lúc ấy người
ta mới phân loại và vô bao, đóng dấu nơi trồng, hãng sản xuất và sẵn
sàng chở đến những nơi đặt mua trên thế giới.
CÁC LOẠI CÀ PHÊ
Cà
phê chia ra nhiều loại tùy theo cách rang. Rang cà phê là để cho bớt độ
ẩm trong hạt ngõ hầu dầu thơm tỏa ra. Chừng một thế kỷ trước, cà phê
phải rang tại nhà bằng lò than. Hiện nay người ta rang bằng gas hay
bằng điện nhưng có nơi vẫn rang bằng than, cho rằng rang bằng than ngon
hơn. Trong kỹ nghệ, cà phê được rang với số lượng lớn dùng nhiệt độ
cao trong một thời gian nhanh (khoảng 204 đến 2600 C trong vòng 5 phút)
rồi làm nguội bằng quạt hơi hay rảy nước cho khỏi cháy khét. Gần đây
nhất, cà phê được kiểm soát bằng computer qua mọi tiến trình. Cà phê
nay được bán trong các tiệm bách hóa thường rang và xay ngay tại chỗ
cho thêm phần quyến rũ và bảo đảm với khách hàng là sản phẩm còn tươi
nguyên
mới ra lò. Người ta có thể rang sơ sài (light or pale roast)
còn được gọi dưới cái tên Cinnamon roast (thời gian khoảng 7 phút),
rang vừa (medium roast) còn gọi là full city hay brown (thời gian từ 9
đến 11 phút) hay rang kỹ (full roast) tức là rang kiểu Pháp thời gian
từ 12 đến 13 phút. Những cách rang kỹ nhất đến cháy xém khiến cho hạt
cà phê bóng nhẫy là kiểu rang của người Ý Ðại Lợi (espresso) thì phải
từ 14 phút trở lên cho đến khi bắt đầu cháy thành than. Cà phê cũng
phân biệt theo cách xay, xay mịn hay to hạt tùy theo cách pha. Trong
khoảng một trăm năm trở lại đây, người ta đã chế biến ra loại cà phê
bột, chỉ cần bỏ vào nước sôi là uống được (instant coffee). Cà phê bột
được điều chế theo hai cách: làm khô bằng cách đông lạnh (freeze
drying) hay làm khô bằng cách phun (spray drying). Cả hai đều phải được
lọc trước để rút hết tinh chất rồi phun ra thành những hạt li ti để làm
khô. Nhiều kỹ thuật mới đã được thí nghiệm để cà phê bột không bị biến
dạng và mất mùi. Tuy nhiên những người khó tính vẫn cho rằng cà phê bột
không thể nào bằng cà phê pha được. Gần đây nhất, khi người ta e
ngại caffeine trong cà phê có thể gây kích thích hại cho sức khỏe nên
đã tìm cách rút chất này ra gọi là decaffeinated coffee (hay viết tắt
là decaf). Những ai đã trải qua đời sinh viên, ly cà phê hẳn để lại
rất nhiều kỷ niệm. Trong vị đắng luôn luôn nồng nàn hương thơm và ẩn
chút ngọt ngào. Thế nhưng cũng nhiều đêm mất ngủ.
8/03 Nguyễn Duy Chính (với sự góp ý của nhà văn Lê Anh Dũng) |