Ở Việt Nam, luôn tồn tại một nền văn hóa trà thanh lịch và tỏa hương. Rất tiết độ, người Việt không uống trà nhiều, uống đặc và liên tục vì quan niệm trà là một triết học về sự tế nhị, thanh tao, sự suy ngẫm và. đầu óc tỉnh táo, là sự giao hoà với thiên nhiên, sự ứng xử với thời gian, sự tiếp cận đầy nhân tính với không gian, với môi trường và con nguời... Việt Nam luôn tồn tại một nền văn hoá trà thanh lịch và tỏa hương.
Trà phong của người Việt
Với nhiều dân tộc trên thế giới, từ lâu trà (gọi chệch đi là chè) đã
trở thành một thứ đồ uống hết sức thông dụng. Người Nga, Anh, Pháp hay
Hà Lan đều say mê trà theo cách riêng của mình. Ðặc biệt, với người dân
châu á, uống trà được nâng thành thứ nghệ thuật thưởng thức sành điệu
mang đậm chất thơ và màu sắc tôn giáo. Nổi bật có Nhật Bản, Trung Hoa
và Việt Nam. Nhật Bản có trà đạo, Trung Hoa và Việt Nam không có trà
.đạo vì muốn giữ trà ở vị trí nghệ thuật và quan niệm rằng nghệ thuật
phải phi công thức.
Trung Hoa có ' ' Trà Kinh' ' , hàng nghìn trang sách và hàng vạn tư
liệu nói về nghệ thuật uống trà đã được trưng bày thành bảo tàng trà.
Việt Nam có cách uống trà riêng, có thể gọi là trà phong (phong cách
uống trà). Phong cách uống trà của nguời Việt không hề bị ảnh hưởng
theo Trung Hoa hay Nhật Bản như quan niệm của nhiều người. Nghệ thuật
uống trà biểu hiện phong phú những khía cạnh văn hóa ứng xử của người
Việt Nam.
Trong gia đình truyền thống, người dưới pha trà cho người trên, phụ nữ
pha trà cho đàn ông. Người ta có thể uống trà một cách im lặng khi sự
im lặng chứa chất nhiều điều, người ta có thể xét đoán tâm lý của người
đối diện lúc dùng trà và khi đã trở thành một cái thú thì không thể
quên nó. Trà đồng nghĩa với sự sảng khoái, tỉnh táo, tĩnh tâm để mưu
điều thiện, tránh điều ác.
Trà trong lịch sử văn hoá Việt Nam
Toàn thế giới có 40 nước trồng trà và kho dữ liệu trà của Trung Quốc đã
khiến người ta cho rằng đó là quê hương của cây trà. Nhưng các tư liệu
cổ và những kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học nước ngoài
cùng Hiệp hội Chè Việt Nam đã chỉ ra rằng trà không xuất xứ từ Trung
Hoa (không thấy cây trà thiên nhiên hay cây trà hoang ở châu thổ sông
Hoàng Hà).
Quê hương của cây trà ở tận phương Nam. Mặc dù người Trung Hoa đã biết
đến trà từ đời Chu nhưng mãi đến thời kỳ nhà Tùy, cây trà mới từ phương
Nam (Nam Chiểu xưa) và Việt Nam (Nam Việt xưa) nhập vào Trung Quốc. Ðến
đất Trung Hoa, trà được chăm sóc tinh vi và sau nhiều năm tháng, trà
được đưa lên hàng nghệ thuật. Thứ nữa, theo tài liệu khảo cứu của Uỷ
ban Khoa học Xã hội thì người ta đã tìm thấy dấu tích của lá và cây chè
hóa thạch ở đất tổ Hùng Vương (Phú Thọ). Xa hơn nữa, họ còn nghi ngờ
cây chè có từ thời kỳ đồ đá Sơn Vi (văn hóa Hòa Bình). Cho đến nay, ở
vùng Suối Giàng (Văn Chấn-Nghĩa Lộ-Yên Bái), trên độ cao 1,000 met so
với mặt biển, có một vùng chè hoang khoảng 40,000 cây chè dại, trong đó
có một cây chè cổ thụ lớn nhất, ba người ôm không xuể. Như vậy, có thể
nói Việt Nam chính là một trong những chiếc nôi cổ nhất của cây chè thế
giới. Ngay từ thế kỷ XVIII, Phạm Ðình Hồ đã viết về uống trà từ trước
đó hàng nghìn năm. Nguyễn Tuân có tùy bút về trà, Thạch Lam viết về trà
xanh, Cao Bá Quát chê người uống trà ướp hương. Ca dao thì nói: " Làm
trai biết đánh tổ tôm, uống trà mạn hảo xem nôm Thuý Kiều... " Chàng
trai xưa còn tự hào: " Anh đây hay tửu hay tăm, hay nước trà đặc hay
nằm ngủ trưa..." Trà là cái thú của người lịch lãm, trong đó trà mạn
(thứ tốt là trà mạn hảo) mà trước thường quen gọi là trà Tàu là thứ trà
quý nhất.
Trà có nhiều loại. Người nông thôn trồng mấy gốc trà bởi có thú ra vườn
tuốt mấy nắm lá, hãm một nồi to, ăn khoai luộc, hút thuốc lào... Sang
hơn có trà ' ' mật vịt' ' (trà xanh pha đặc như mật con vịt). Trà hạt
là nụ trà phơi khô, ủ vào tích có hoa cúc chi hoặc mấy lát gừng cho ấm
giọng. Xoàng là trà bồm, lá già, tận dụng khi đốn đau cây trà .để chờ
lứa trà búp mới mùa xuân.
Trà bánh còn ' ' xoàng' ' hơn nữa, giống như một thời có loại chè ba
hào hoặc nói vui " chín hào ba" (chín hào ba gói), nước vàng vàng mà
không hương không vị. Người Nghệ An, Hà Tĩnh có tục mời nhau uống chè
tươi, chè xanh vì họ coi trọng tình làng nghĩa xóm. Mùa hè nóng, đi làm
đồng về, thứ quý nhất là bát chè xanh đặc pha chút đường. Trà mạn xưa
cũng là trà lá già, sau ướp sen thành trà mạn sen là thứ quý. Thời bao
cấp, trà loại hai đã là quý. Tết mới được phân phối mỗi gia đình một
gói, trà loại một đã là mừng lắm, đó là Thanh Hương, Thanh Tâm, gói 50
gram. Hai loại trà ngon nhất Việt Nam là trà Thái Nguyên và Trà tuyết
Suối Giàng bởi do đặc điểm vùng tiểu khí hậu, trà trồng ở nơi ấy có tỷ
lệ đường, caffein nhiều hơn và tỷ lệ tananh (chất chát) ít hơn so với
trà trồng ở các tỉnh khác. Không chỉ là thứ đồ uống thơm ngon, trà còn
là một loại dược thảo rất tốt. Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra trong
lá chè có chứa 20% tananh có tác dụng sát khuẩn mạnh, một lượng lớn
caffêin, hợp chất thơm, tinh dầu cùng một số loại vitamin... Hai công
dụng lớn nhất của lá chè là làm tăng tuần hoàn máu, tăng cường chức
năng hoạt động của thận và giúp tế bào AND tái tạo, giảm bớt các đột
biến gen có thể dẫn đến ung thư, chữa bệnh sâu răng, kích thích hệ thần
kinh trung ương giúp cho tinh thần sảng khoái. Caffein trong trà giúp
cho lợi niệu, dễ tiêu hóa, chữa chứng xơ vữa động mạch, loại trừ chất
độc trong cơ thể, lưu thông khí huyết. Dân gian Việt Nam và Trung Quốc
còn lưu truyền vô vàn cách chữa bệnh bằng chè. Người xưa có thơ rằng:
Bán dạ tam bôi tửu Bình minh sổ trản trà Mỗi nhật cứ như thử Lương y
bất đáo gia (Mai sớm một tuần trà Canh khuya dăm chén rượu Mỗi ngày
được như thế Thầy thuốc xa nhà ta) Nhưng có lẽ trà quan trọng và nổi
tiếng hơn chính vì ở nhiều nước, việc uống trà đã trở thành nét đẹp
truyền thống văn hóa, tiêu biểu là Văn hóa Thiền. Nét đẹp nhất của văn
hóa Thiền tông là thế giới thuần khiết, thanh tịnh, tao nhã và êm dịu.
Nói đến nghệ thuật thưởng trà Việt Nam là người ta lại nhắc đến thú
uống trà của người Hà Nội bởi vẻ thanh lịch, trang nhã, sự cầu kỳ trong
ẩm thực của người Hà Nội đã nâng tính thẩm mỹ của chén trà lên một
trình độ rất cao.
Hà nội trà xưa
Xuất phát từ nông thôn nhưng chính người Hà Nội mới có công gìn giữ và
đưa văn hoá uống trà Việt Nam lên bậc những nét văn hoá đẹp nhất của
người Việt. Sử sách ghi lại, hình thức uống trà khởi nguồn từ các chùa
chiền, tức gắn liền đạo Phật của người Việt, nó được gọi là Thiền trà.
Các nhà sư thường uống trà và tụng kinh thay cơm sáng hay những lúc
chiều tà, đó là những thời khắc đời sống trần tục đang bủa vây tứ phía,
trà giúp người ta tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục và để xua đi
cảm giác cô độc. Hiện nay, ngôi chùa duy nhất còn tiến hành nghi lễ
Thiền trà định kỳ là chùa Văn Trì (Từ Liêm) - Hà Nội. Sau đó, trà nhanh
chóng được ưa chuộng trong đời sống cung đình như là một bằng chứng của
sự giàu sang quyền quý để phân biệt đẳng cấp với bậc thứ dân trong xã
hội phong kiến. Trà khô là thứ phải đổi từ Trung Hoa về, rất đắt và
hiếm. Trà chinh phục tầng lớp trung lưu, phần lớn là giới nho sỹ. Tương
truyền Bích Câu Quán là nơi đầu tiên mà các học trò theo học ở Văn miếu
thường uống trà, họp bàn văn chương. Trước năm 1945, các hãng trà lớn ở
Hà Nội rất giàu như Chính Thái, Ninh Thái, Phú Xuân, Phú Thái buôn và
chế biến trà bán khắp Ðông Dương. Trà ngon đựng trong chai thuỷ tinh,
lọ sứ, hộp thiếc khoảng một lạng, ngoài còn có giấy bạc, giấy bóng
kính. Sêu tết, đồ mừng, quà tặng phải có thứ quà đó. Tầng lớp sỹ phu,
giàu có, trí thức, nhà nho có thói quen uống trà cầu kỳ. Dùng xong
người nhà cất bao bì ấy đi, có những hàng rong đi mua lại, chỉ mấy cái
chai chè. đã đổi được chai mới. Ðó là phát tích của một nghề mới, nghề
chè chai lông vịt. Ngược lên xa nữa là thú uống trà Tàu đầy vẻ cao sang
của nhà quan cách, đã thành nghệ thuật cầu kỳ. Bao giờ cũng phải đủ
than hoa, hoả lò, cấp thiêu (siêu đồng), ấm gấn, chén tống chén quân,
khay chạm khảm... có cả đầy tớ chuyên đun nước và hầu trà. Mỗi sáng
sớm, trước khi làm việc, dùng một tuần trà cho sảng khoái tinh thần là
một nghi thức bất thành văn trong lối sống nhiều nhà nho Hà Thành tự
lúc nào. Ở thế kỷ XVIII, Phạm Ðình Hồ đã tả lại trong " Vũ trung tuỳ
bút" : Các nhà quý tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều
đua chuộng xa xỉ, có khi mua một cái ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng
bạc. Thường có nhiều người qua chơi các hiệu chè, thăm dò các phố buôn,
vác tiền hết quan ấy đến chục khác để mua chuốc lấy chè ngon. Lúc ngồi
rỗi, pha chè uống với nhau, lại đánh cuộc xem chè. đầu xuân năm nay sớm
hay muộn, giá chè năm nay cao hay hạ. Kẻ thì tra thanh hương, người thì
thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên mà mua cho được chè ngon để bày khay
chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn để mua cho được hiệu chè
Chính sơn, gửi tàu buôn để đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu
thượng đến thế là cùng cực" . Song cái thú vị của uống trà theo Phạm
Ðình Hồ là ở chỗ " cái tinh nó sạch sẽ, cái hương nó thơm tho. Buổi sớm
gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu nàng thơ cùng làm chủ
khách mà ung dung pha ấm chè ra thưởng thức thì có thể tỉnh được mộng
trần, rửa được lòng tục, ấy người xưa ưa chuộng chè là vì vậy." Theo
thời gian, lớp nhà nho quan lại ấy mất dần đi, trà cũng được pha loãng
ra. Thú uống trà giản dị hơn. Uống kiểu bình dân cần gọn nhẹ, nhanh và
xuề xòa gọi là cách uống trà tạp. Ðến năm 1945, do chiến tranh và những
biến động lịch sử, thú uống trà của người Hà Nội dù vẫn duy trì nhưng
chỉ ở số ít những người khán giả và có học thức. Qua những thời kỳ loạn
lạc, thú uống trà thanh tao của người Hà Nội vẫn tích tụ âm thầm để
giai đoạn sau đó, trà lại ' ' trở về' ' nhờ hàng loạt những cửa hàng
vừa bán chè khô vừa là quán trà thơm ngon nổi tiếng: Hàng Cô Dầu ở chợ
Ðồng Xuân, quán Nghệ sỹ ở Ðinh Tiên Hoàng, quán Thăng Long ở Hàng Gai,
quán Dương Phi ở Cầu Gỗ, quán Bạch Ngọc sau đền Bà Kiệu... Hà Nội cũng
chính là nơi xuất phát của cách uống trà ướp hương hoa. Các loại hoa để
ướp trà cũng phải là thứ hoa quý, thanh tao như hoa ngâu, hoa sói, hoa
sen, hoa nhài, hoa cúc... Ðặc biệt, thứ trà ướp hương sen là thứ trà
rất quý chỉ dùng để tiếp khách tri âm hoặc làm quà biếu. Mỗi cân trà
mạn ngon ướp từ 100-1200 bông sen Tây Hồ và phải là thứ sen chưa bóc
cánh đượm hương nhất. Trà sen loại đặc biệt giá lúc nào cũng ở mức 2-3
chỉ vàng một cân. ở Hà Nội hiện còn khoảng 30 gia đình làm loại trà
này.
Lễ nghi trong chén trà ngon
Uống trà là một thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời
khách, người ta phải để vào đấy nhiều công phu, những công phu đó đã
trở nên lễ nghi. Trong ấm trà pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi
thơ và một vị triết lý. Theo các bậc lão nông đã hàng chục năm sao chế
trà: Trà ngon cũng như bạn hiền, chỉ có thể may mắn gặp được chứ không
thể cầu mà có được. Bởi các yếu tố như thời khí nặng nhẹ, mưa nắng mạnh
yếu, độ ẩm, bàn tay người chăm sóc, thậm chí hướng gió cũng ảnh hưởng
đến chất lượng trà thành phẩm. Trà ngon, nước phải trong xanh, ngửi như
có hương cốm non, dư vị đọng mãi trong cổ. Thứ được nước, tức là pha
nhiều lần nước vẫn còn màu thì kém hơn. Có những người đã trộn hạt cau
khô, búp ổi...vào trà để bán. Còn thứ nước trà uống theo kiểu phương
Tây, cho đường, sữa... vào uống thì chỉ đáp ứng được những ý thích nhất
thời.
Trà
Muốn có chén trà ngon phải có trà khô ngon. Người Việt Nam ngày nay chủ
yếu uống trà xanh sao chế bằng phương pháp thủ công, thường gọi là trà
mộc. Trà móc câu là trà chỉ được hái đọt non nhất nên sau khi sao quăn
lại giống như hình móc câu. Song, người sành trà lại bảo phải gọi là "
trà mốc cau" mới đúng vì trà tròn cánh, trôi tay, có mốc trắng như mốc
cây cau. Còn trà sao suốt là phương pháp sao trà bằng nhiệt, tách nước
bằng tay với ngọn lửa liên tục, đều đặn trên chảo gang. Những thứ trà
thơm ngon đều được gọi chung là chè Thái nhưng thực ra, trà bán ở thị
trường hiện nay có từ rất nhiều nguồn. Trà ướp hoa là hội tụ đỉnh cao
của cái tinh tế, phong cách tao nhã, thanh lịch và sành điệu của người
Tràng An. Trong đó, hoa sen là thứ hoa thông dụng nhất mà cũng quý
nhất, ướp trà ngon nhất. Ðiều này được nhà sư Hạnh Châu ở chùa Vân Trì
lý giải ' ' bởi quan niệm về hoa sen trong đạo Phật của người Á Ðông.
Hoa sen vốn dĩ là thứ hoa rất thanh cao mọc lên từ bùn lầy, điều đó
tương tự như chữ Danh mà người quân tử rất coi trọng vậy' ' . Hương hoa
sen là những gì tinh tuý của trời đất tụ lại. Vì vậy, trà ướp sen là
vật phẩm quý giá, xưa kia chỉ dành cho những hàng vương tôn công tử và
những gia đình quyền quý. Còn theo Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
(1720-1791) thì " Cây sen hoa mọc từ dưới bùn đen mà không ô nhiễm mùi
bùn, được khí thơm trong của trời đất nên củ sen, hoa sen, tua, lá...
đều là những vị thuốc hay" . Nghệ nhân Trường Xuân (Hiên trà quán -
đường 180 Yên phụ) tiết lộ: ' ' Muốn có trà ngon, chỉ hái những búp trà
loại ' ' một tôm hai lá' ' và phải hái nhanh, nhẹ nhàng, không để búp
bị nhàu nát. Loại trà ngon là sau khi sao phải còn lại một lượng nước
nhất định từ 5-7%. Trà hái xong không ướp hương ngay mà phải để trong
chum đất, trên ủ lá chuối, để từ 2-3 năm nhằm làm giảm độ chát và để
cánh trà phồng lên hút được nhiều hương. Một cân trà ướp hương sen cần
có 800-1000 bông sen, mà phải đúng loại sen ở đầm Ðồng Trị, Thuỷ Sứ,
làng Quảng Bá, Hồ Tây (sen ở đây to và thơm hơn sen những nơi khác). Có
lẽ do Hồ Tây được xem là chốn địa linh chăng? Hoa sen phải hái trước
lúc bình minh. Bông sen còn đẫm sương được tách lấy phần hạt gạo rồi
rải đều, cứ một lớp trà một lớp gạo sen. Sau cùng phủ một lớp giấy bản.
Ướp như vậy liên tục 5-6 lần, mỗi lần ướp xong lại sấy khô rồi mới ướp
tiếp. Công phu là thế nên một ấm trà sen có thể uống hàng chục tuần
trà. Nước trong rồi, hương sen còn ngan ngát. Cụ Nguyễn Tuân ca ngợi
kiểu ướp hương trà bằng cách bỏ trà mạn vào bông sen mới nở, buộc lại.
Thực ra, cách chơi ngông đó của Cụ Nguyễn vừa rất cầu kỳ vừa không để
trà được lâu (hay bị mốc) và hay bị mất hương, chỉ có thể dùng cho
lượng trà rất ít và phải uống ngay. Trà ướp cũng có cái ngon đặc biệt
của nó nhưng các ' ' chân trà nhân' ' thì bao giờ cũng chuộng trà đơn
thuần hơn. Ðể bảo quản trà, trước hết phải để nơi khô ráo và thoáng
mát. Còn theo các cụ sành trà, trà mạn phải để trong bình gốm hay sứ,
mà phải là bình tối màu, sao cho hạn chế tối thiểu ánh sáng vào vì
chính ánh sáng là thủ phạm làm giảm hương vị trà.
Trà cụ
Trà cụ hay công cụ để pha trà cũng rất cầu kỳ. Tương truyền từ thời
xưa, đã là dân nghiền trà phải có hai ấm đồng, bên trong có đủ năm kim
hỏa thì nước mới mau sôi, hai ấm thay nhau giữ nước sôi trên lò đốt
bằng than hoa hoặc than tàu. ấm pha trà phải là ấm đất được làm từ thứ
đất sét đỏ như chu sa, vừa nhỏ xinh cho đủ một tuần trà. ' ' Thứ nhất
Thế Ðức gan gà, thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần' ' . Mua được thứ ấm
ưng ý cũng là cả một nghệ thuật. Thả úp ấm vào chậu nước thấy nổi đều,
cân nhau là được. ấm mua về không thể dùng ngay bởi còn vương hơi đất
và lửa, phải đun sôi qua nước tinh khiết nhiều lần. Trà cụ cũng biến
chuyển qua các thời đại, nói chung là đẹp hơn, thanh hơn lúc đầu. ' '
ấm đất Nghi Hưng, chén Sứ Cảnh Giới' ' là châm ngôn của trà giới. Sở dĩ
có điều đó là vì Cảnh Ðức trấn ở tỉnh Giang Nam được xem là kinh đô làm
đồ gốm của cả Thế giới suốt nghìn năm qua. Trấn bắt đầu hoạt động từ
thời Nam - Bắc triều, tiếp tục phát triển thành nơi chính thức cung cấp
đồ gốm cho vương phủ suốt các thời đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Chính
nơi đây đã cung cấp cho nhân loại những món đồ sứ tuyệt mỹ với năm loại
men danh tiếng và sản xuất loại chén trà Cảnh Ðức với men Thanh từ màu
xanh trời sau mưa (thiên thanh vũ hậu). ấm đất Nghi Hưng ở Tô Châu nổi
tiếng vì hai lẽ: Một là nơi đây có loại đất sét đặc biệt, khi còn tuơi
có màu vàng nghệ Thạch Hoàng, khi nung nóng có màu cam hồng, đặc sắc
không đâu có. Hai nữa là ấm được các tượng nhân nặn bằng tay. Mỗi ấm là
một tác phẩm nghệ thuật riêng biệt. Thân ấm lại được các nghệ nhân khắc
những bài thơ nổi tiếng và .đôi khi, được các đại bút gia đề thơ hay
chép tặng... ấm do nhà Cung Xuân thời Minh và nhà Trần Ðạo Chi thời
Thanh sản xuất và được các chân trà nhân quý như những tác phẩm điêu
khắc tuyệt mỹ.
Pha trà
Có trong tay loại trà ngon mà không biết cách pha cho đúng cũng phí ấm
trà. Ông Trường Xuân, chủ Hiên Trà nói: Muốn có ấm trà ngon, chỉ cần
chế biến trong 7 phút nhưng không học thì cả đời cũng không làm được.
Cách pha trà tuy mất thời gian nhưng lại rất quan trọng. Trà sư Lục Vũ,
người Trung Hoa đời Ðường (được phong làm thánh trà với tác phẩm Trà
Kinh) đã tôn lửa là ' ' trà sư' ' gọi nước là ' ' trà hữu' ' . Trà muốn
được thật ngon phải đúng lửa, đúng nước... Cũng thể như người ta vậy,
muốn thành quân tử phải có thầy hay bạn tốt. Còn vua Tống Huy Tông
trong Ðại quan trà luận có phân loại nước rất rõ ràng: ' ' Sơn thuỷ
thượng, giang thuỷ trung, tĩnh thuỷ hạ' ' . Tức là nước pha trà ngon
nhất là nước đầu nguồn suối, nhì là nước sông và thứ ba là nước giếng
khơi. Còn người Hà Nội do địa thế không gần nguồn suối mà thuộc hạ lưu
sông nên thường pha trà bằng nước giếng khơi hay bằng nước mưa. Mưa
được khoảng 10 phút (khi đã hết bụi bẩn trong không gian), người ta
mang bàn ra giữa sân gạch, lấy chậu sành to để lên trên bàn (hay trên
nóc nhà ngói) hứng nước mưa, cất đi để dành. Tột bực có cụ Nguyễn Tuân
với cách hứng nước sương trên lá sen buổi sớm.
Thưởng trà
Cách uống trà liên quan chặt chẽ tới nếp sống của các vị thiền sư, phù
hợp nguyên tắc luôn tỉnh thức và quan sát của môn phái Thiền Minh sát
Vipassana. Bằng cách ngắm hoa hoặc thanh tịnh nơi trà thất, họ thanh
tịnh nhãn căn; khi lắng nghe tiếng nước sôi trong ấm đồng, họ thanh
tịnh nhĩ căn; khi nhấm nháp từng ngụm trà nhỏ từ chén trà thơm tho, họ
thanh tịnh khẩu vị và thiệt căn; khi tiếp xúc với những trà cụ trong sự
tĩnh giác, họ thanh tịnh được xúc giác và thân căn; khi thâm tâm và lục
căn thanh tịnh, họ thoát khỏi mọi ràng buộc của phiền muộn và tâm hồn
trở nên thanh thản. Có lẽ đó chính là nghệ thuật thưởng thức trà giàu ý
nghĩa nhất mà con người có thể có được. Thời đại ngày nay, dù vui hay
buồn khách cũng không thể từ chối một chén trà do chủ nhân dâng mời
bằng hai tay. Dâng trà là một ứng xử văn hóa phổ quát biểu hiện sự lễ
độ, lòng mến khách. Uống trà cũng là một ứng xử văn hóa, uống từng ngụm
nhỏ để cảm nhận hết cái thơm ngọt của trà, cái hơi ấm thoát ra từ hai
bàn tay nâng chén trà hoặc ủ nóng bàn tay trong mùa đông lạnh giá. Ðộng
thái uống trà khiến người ta tĩnh tâm, như ăn có nhai, làm có nghĩ. Các
chân trà nhân Hà Nội ngàn xưa và ngày nay vẫn rất chú ý đến nghệ thuật
thưởng thức trà với nhiều loại trà cụ cần thiết, để làm sao cho người
uống cũng có thể cảm nhận và thể nghiệm về trà giống như các thiền sư.
Dùng thìa gỗ múc trà cho vào ấm được gọi là Ngọc diệp hồi cung. Ðể có
được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm ấm lên
bằng nước sôi. Ðiều này có dụng ý là giữ cho nước trong bình pha luôn
luôn có độ nóng cao nhất. Trà khô bỏ vào bình loại đất nung nhỏ cao cỡ
1/3 bình. Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ
thơm. Khi châm nước lần một gọi là Cao sơn trường thuỷ, dùng vòi nước
sôi mắt cua giội từ trên cao xuống nhằm tạo ra một lực làm tan bụi bẩn
trong trà. Người ta châm một ít nước sôi vào bình trà rồi chắt ngay ra,
đổ đi nước đầu này để loại hết bụi bẩn trong trà và trà khô trong bình
kịp thấm không nổi lềnh bềnh nữa. Trà nước hai là lần đổ nước thứ hai
vào ấm hạ sơn nhập thuỷ, đổ nước cao tràn miệng bình để khi đậy nắp
lại, bọt bẩn trào ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp, cũng nhằm giữ nhiệt
độ cao nhất cho ấm trà. Nước hai chính là nước trà chuẩn nhất được tạo
ra trong vòng 60-90 giây này thực sự tạo ra mùi vị thơm tho tuyệt diệu
từ các cánh trà. Khi dùng trà, phải rót sao cho các chén trà đều có
nồng độ như nhau bằng cách kê khít các miệng chén lại và đưa vòi ấm
quay vòng đều các chén. Cách phổ biến trong truyền thống là rót ra chén
Tướng (thường gọi chệch đi là chén Tống) rồi chia đều ra các chén quân.
Cách này ngày nay ít dùng vì phần làm nguội trà, phần hơi mất thời
gian. Dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén,
ngón trỏ và ngón cái đỡ miệng chén gọi là Tam long giá ngọc, người dâng
trà và người nhận trà đều phải cung kính cúi đầu. Trước khi uống đưa
chén sang tay trái, mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải (du sơn lâm
thuỷ). Cầm chén uống trà phải quay lòng bàn tay vào trong, dâng chén
lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng hớp
một hớp nhỏ - Tay áo các quan lại phong kiến thường rất rộng cũng một
phần vì lẽ dùng che miệng khi uống trà là vậy - Che miệng khi ăn, uống,
cười, nói trong chèo, tuồng, trong đời sống người Việt xưa chính là một
hành vi văn hoá. Người uống cũng phải chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho
hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời đọng trong cổ họng, nuốt nước
bọt tiếp lần một, lần hai, lần ba để cảm nhận.
Hội trà
Ngoài các cách uống trà từ đơn giản đến cầu kỳ trong các gia đình,
người Việt xưa có các hình thức hội trà. Ðó là uống trà thưởng hoa
xuân, uống trà thưởng hoa quý và uống trà ngũ hương. Hội trà là hình
thức tụ họp cùng thưởng trà khi có trà ngon hay dịp đặc biệt, thường là
của những người sành trà hay người cao tuổi. Thưởng trà đầu xuân là
thói quen của riêng các bậc tao nhân chốn kinh thành xưa kia. Trước
Tết, đích thân các cụ đi chọn mua hoa đào, cúc, mai trắng, thủy tiên ở
tận vườn (Quảng Bá, Nghi Tàm, Ngọc Hà) và tự chuẩn bị loại trà ngon
nhất. Sáng mồng một, con cháu dành riêng cho cụ những giây phút đầu
tiên để tịnh tâm và ngắm hoa thưởng trà, sau đó mới là cả đại gia đình
cùng ngồi quanh bàn trà chúc thọ cụ và nghe lời dặn dò. Uống trà thưởng
hoa quý như hoa quỳnh, hoa trà cũng là cái thú của nhiều người ở nông
thôn Việt Nam và Hà Thành. Ðó cũng là hình thức hội trà quanh chậu hoa
quý vào tối hoa mãn khai của những người cao tuổi, đàm đạo thế sự và
dặn dò lớp con cháu. Trà ngũ hương chỉ giới hạn cho năm người. Khay
uống trà ngũ hương thửa năm chỗ trũng, để năm loại hoa đang độ đượm
hương nhất: cúc, sói, nhài, sen, ngâu. úp chén kín hoa, bưng khay để
lên nồi nước sôi cho hương hoa bắt đầu bám vào lòng chén. Pha trà mạn
ngon và rót đều vào từng chén, mỗi người tham gia sẽ phải đoán hương
trà trong chén của mình và cùng nhận xét. Sau mỗi chén trà, người chủ
trà lại hoán vị hương để ai cũng được thưởng thức hết cái tinh tuý của
năm loại hoa. Cách uống trà ngũ hương và uống trà ngắm hoa xuân chỉ
người Hà Nội mới có. Nhưng uống trà ở nông thôn hay thành phố cũng tồn
tại các hình thức chung là quần ẩm - ba người trở nên cùng uống, đối ẩm
- hai người uống với nhau và độc ẩm - một người. Nhà văn Nguyễn Tuân
sinh thời có nói: Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí mới có thể
cùng nhau ngồi bên một ấm trà. Vậy người bạn tri kỷ cùng ta uống trà
hẳn phải là người bạn hiền, chỉ cần đưa mắt là hiểu lòng nhau, lấy gì
mà mua cho được ở cõi đời còn đầy ô nhiễm và phiền muộn này? Có duyên
phận lắm mới được cùng nhau hạnh ngộ với người tri kỷ bên một chén trà
quý là vậy.
Văn hóa trà nay
Ngày nay, mời uống trà là biểu hiện đầu tiên đã trở thành quy luật của
lòng hiếu khách, tôn trọng khách trong mọi gia đình người Việt. Kỵ nhất
là tiếp khách bằng những chiếc tách hay chén còn ngấn nước trà cũ thành
vòng nâu vì người trước uống xong úp xuống luôn. Cũng ngại khi chủ nhân
ghé miệng vào vòi ấm thổi phù phù vì vòi tắc hoặc ấm trà đãi khách đã
nhạt. Chén trà tiếp khách là thể hiện những tình cảm tổi thiểu nhất nên
không thể tuỳ tiện, coi thường dù không nhất nhất phải là loại trà
thượng hảo hạng. Những năm gần đây, Hà Nội có hàng nghìn quán trà trên
các vỉa hè, chưa kể những người bán dạo chỉ với cái ấm và cái làn xách
tay. Hà Nội đang có nhiều cách uống trà. Phố Hàng Ðiếu thành ra phố bán
mứt sen và trà khô, người ta gọi chung là trà Thái (trà Tân Cương), chỉ
có một xã Tân Cương nhỏ bé mà sản lượng trà lớn đến thế? Ngày nay, với
500 đồng là có thể mua được một ấm trà sen đóng trong túi nilon, nhưng
là hương sen nhân tạo. Không cẩn thận, bạn sẽ mua phải trà lẫn bã đã
phơi khô, búp ổi hay hạt cau khô... Cách đây ba năm, Hà Nội và các
thành phố khác khởi đầu với hàng loạt biển vàng của trà Lipton, kế tiếp
là biển xanh của Dimah, và gần đây là những đ.èn lồng đỏ của trà Ðài
Loan và Trung Quốc... Sự thành công của những nhãn mác trà ngoại đó cho
thấy, từ lâu lắm rồi, người ta vẫn mong chờ một điều gì đó có thể làm
cân bằng cuộc sống hiện đại cuồn cuộn chảy; hoặc giả người ta vẫn thấy
rất thú vị khi được lặp lại một thú ăn chơi mang tính chất quý tộc hoài
cổ chốn kinh kỳ xa xưa. Nam thanh nữ tú có yêu trà Việt Nam đến mấy
cũng không thể ngồi lê ở các quán cóc mà uống trà, họ cần có những
không gian lịch sự để trò chuyện và cảm thấy được tôn trọng... Nhưng
trong những nơi đó chỉ có thứ trà vừa chua vừa ngọt, ít hương kém vị,
vừa uống vào đã tuột hết mùi vị làm sao so được với trà mạn, trà sen,
trà hoa nhài, hoa sói... thứ trà mà người xưa thường ví đi tám dặm
đường còn ngọt trong cổ.
Sẽ có người thở dài: Tìm đâu ra hương trà Việt Nam?
Cách đây năm năm, tại một ngõ nhỏ nhà B6 - Thanh Xuân Bắc - Hà Nội xuất
hiện một quán trà của ông giáo Lư. Quán chỉ gồm những chiếc ghế con
trên vỉa hè, thứ bày bán cũng chỉ là vài chiếc kẹo lạc, kẹo vừng...
Nhưng thứ hấp dẫn khách chính là những loại trà ngon mà chính ông giáo
Lư đã tự tay sao ướp: trà nhài, trà cửu cúc, trà mộc, trà ngũ hương,
trà sen. Sở dĩ làm được như vậy bởi cụ Lư là người hầu trà cho ông cụ
thân sinh từ khi còn nhỏ. Cụ thân sinh ông vốn là người nghiện nặng trà
và cả đời chỉ uống duy nhất thức uống đó. Mấy chục năm chỉ đun cành
thông khô nấu nước pha trà, hương trà đã ngấm vào máu ông. Cái ngõ nhỏ
của cụ Lư từ 7h sáng đến 11h trưa là nơi là nơi các cụ hưu đàm đạo
chuyện thế sự, trao đổi về trà. Từ 18h đến 23h hàng ngày là nơi thanh
niên, sinh viên uống trà, cùng nghe cụ Lư nói chuyện về trà và giải
những câu đố vừa học vừa chơi cả đời ông giáo Lư cóp nhặt. Rất nhiều
người đến đây chỉ để hỏi chuyện về trà và nói chuyện cùng cụ già 72
tuổi nhưng còn rất minh mẫn này. Giữa thời đại kim tiền này, một địa
chỉ văn hoá như thế được duy trì thật đáng trân trọng. Sau tết Nguyên
đán vừa rồi, Hà Nội lại có thêm một địa chỉ văn hóa trà vô cùng đặc sắc
là Hiên Trà Trường Xuân-180 Yên Phụ. Người chủ của Hiên trà là nghệ
nhân Trường Xuân, 72 tuổi. Sinh trưởng trong một dòng họ năm đời làm
nghề ướp hương trà nổi tiếng ở Hà Nội. Không ít người còn nhớ hương vị
của Ðinh Dược trà nổi tiếng ở cửa hàng Diệu Xuân của gia đình ông. Mục
đích cuối cùng của cả đời ông là khôi phục và tôn vinh văn hoá trà Việt
Nam. Ông đã dành toàn bộ cuộc đời này cho việc đi suốt các hành lang
chè của Việt Nam, nghiên cứu về trà đạo Nhật Bản, Trung Quốc và văn hoá
thưởng trà của người Việt. Hiên Trà hội tụ các sản vật trà thơm ngon
nổi tiếng từ Tân Cương, La Bằng, Quan Chu (Thái Nguyên) đến Mộc Châu
(Sơn La), Nậm Ty, Lũng Phìn (Hà Giang). Từ các loại trà ướp hương hoa
(sen, nhài, cúc, ngâu, sói... ) đến các loại trà bổ dưỡng như mật ong
tâm sen trà, mật ong nhân sâm trà, mật ong đại tảo liên nhục trà...
Không chỉ dừng lại ở việc thưởng trà, Hiên trà Trường Xuân còn là nơi
dạy dỗ, hướng dẫn, trao đổi, đàm đạo về trà và nghệ thuật pha trà...
Ðây cũng dần trở thành một nơi diễn ra các sinh hoạt văn hoá nghệ thuật
như triển lãm ảnh, tranh nghệ thuật, triển lãm thư pháp, trưng bày sách
và các tiêu bản về trà, các cuộc nói chuyện về trà... Ðổ vốn liếng của
cả cuộc đời vào Hiên Trà, nhiều người cho rằng đó là một cách kinh
doanh khá mạo hiểm. Nhưng Hiên Trà đang ngày càng được nhiều bạn trẻ
tìm đến bởi 27 loại trà Việt Nam rất đậm đà, khung cảnh rất đẹp và bất
kỳ lúc nào họ cũng có thể được hai bố con chủ nhân trực tiếp hướng dẫn
và giảng giải mọi khía cạnh liên quan đến văn hoá trà. Ngày Hiên trà ra
mắt, ông Trường Xuân rớm lệ: ' ' Tôi chấp nhận những rủi ro trong kinh
doanh bởi mục đích chính của tôi là khôi phục một nền văn hoá trà mà
bấy lâu chúng ta sao nhãng... Tôi tin là ngày càng có thêm nhiều người
Việt Nam yêu trà Việt Nam' ' .
Ai níu hương trà phôi pha?
Một chuyên gia nước ngoài nhận xét, ở Việt Nam, ngoài lúa gạo và cà phê
thì chẳng có sản phẩm nào lợi thế hơn trà khô. Trong khi gạo và cà phê.
đang trở thành mặt hàng nông sản có tiếng trên thế giới, còn chè thì
chưa. Nếu như vào đầu thập kỷ 90, cả nước chỉ tập trung vào một đầu mối
xuất khẩu chè duy nhất là Tổng Công ty Chè Việt Nam (Vina Tea) thì sau
10 năm, Việt Nam có 124 đầu mối xuất khẩu chè thuộc rất nhiều ngành
nghề và lĩnh vực khác nhau. Nhờ vậy, cây chè Việt Nam đã thâm nhập 43
nước thay vì 25 nước như trước đây, đưa nước ta thành một trong 10 nước
xuất khẩu chè hàng đầu thế giới. Ðến nay, diện tích cây chè cả nước đạt
90 nghìn ha, sản lượng đạt 327 nghìn tấn/năm. Ðặc biệt, năng suất đã
đạt 1 tấn khô/1 ha, xấp xỉ năng suất trà bình quân thế giới. Tuy nhiên,
vẫn còn một nghịch lý là nước ta có nền văn hoá trà lâu đời vào bậc
nhất nhân loại nhưng về mặt văn hoá tư liệu thì chưa có những công
trình nghiên cứu, sưu tầm có bề dày lịch sử liên tục và phong phú như ở
Trung quốc, Ðài Loan, Nhật Bản... Ðó là lý do trà Việt Nam rất khó khăn
để cạnh tranh chỗ đứng trên thị trường trà thế giới, khẳng định nền văn
hoá trà phi vật thể vô giá của chúng ta. Ðáng buồn, sản lượng tiêu thụ
trà hàng năm của Việt Nam chỉ là 0,3 kg/người/năm, đứng sau rất nhiều
nước không sản xuất trà. Với Hà Nội, mỗi ngày tiêu thụ bao nhiêu tạ
trà, có bao nhiêu ẩm khách đến với trà như một sinh hoạt hàng ngày và
là một hành động văn hoá hàng ngày? Những ' ' bảo tàng sống' ' về trà
Việt Nam như cụ Lư, nghệ nhân Trường Xuân liệu có còn mấy ai biết tới,
mấy ai có nhiệt huyết kế tục? Trà quý và người quý trà dần hiếm, đều
rất dễ phôi phai. Các cụ già bảo tôi: Xem một người uống trà biết ngay
người ấy thanh lịch đến mức nào khiến tôi không biết giấu đi đâu chén
trà mới... một hớp đã nhìn thấy đáy của mình. Lớp trẻ chúng tôi bây giờ
chỉ thích uống rượu bia, thích coca, uống trà ngoại, trà đá hơn trà
thái Nguyên, trà Hà Giang... Người ta có thể cãi nhau, đánh nhau vì
rượu chứ có ai đánh nhau vì trà bởi uống trà làm người ta tĩnh tâm,
hướng thiện, như ăn có nhai, làm có nghĩ. Có bao giờ lớp trẻ Việt Nam
quay lại cái thời yêu nhau thế này: Tặng người ngàn dặm cách xa, cười
dâng chỉ một âu trà thế thôi... Cả một nền văn hoá ẩm thuỷ độc đáo đang
bị người đời lãng quên dần dưới lớp bụi thời gian ngày càng dầy mãi. Có
tìm hiểu về trà mới hay những người Việt Nam, nhất là người Hà Nội tâm
huyết với cây trà còn nhiều lắm, nhưng con số ít ỏi quán trà thực sự
Việt Nam ở cái thành phố vừa được phong danh hiệu vì hoà bình này vẫn
còn đang bé nhỏ đến mức tủi phận. Ðến bao giờ thì số đông lớp trẻ của
chúng ta thảng thốt nhận ra rằng: Nhanh lên để một nền văn hoá trà đậm
đà hương sắc tự ngàn năm không kịp vụt cánh bay đi!?
Hồng Phúc
.
|