|
- Ngô Thị Giáng Uyên -
Rồi tôi thích thú dùng muỗng khuấy đá bào (thường
chiếm tỉ lệ áp đảo trong ly) cho cà phê trộn sữa Ông Thọ sủi bọt lên,
nhấm nháp thứ thức uống vừa đắng, vừa ngọt, vừa béo ngậy thơm lừng. Ai thấy cũng bảo mẹ tôi “Sao nó còn nhỏ mà cho nó uống cà phê dữ vậy?”, nhưng mẹ tôi cười “Kệ, nó thích cứ để nó uống” Có
lẽ cũng vì những ngày “nó thích cứ để nó uống” đó mà bây giờ đi đâu tôi
cũng lân la muốn biết cà phê xứ đó ra sao, có khi sợ mất ngủ không dám
uống cà phê cũng vào quán gọi món khác, nhìn không khí quán và người
qua lại. Khi còn đi học ở Anh, nhà tôi ở có một
anh bạn người Ailen tên Paddy. Anh chàng này khá luộm thuộm và hay làm
hai đứa con gái trong nhà là Janette và tôi cằn nhằn, nhưng thỉnh
thoảng anh lại chịu khó làm cà phê kiểu Ailen (Irish coffee) cho cả nhà
uống nên chúng tôi ít khi giận anh được lâu, nhất là từ khi biết được
Irish coffee là món cà phê rất mắc tiền mà chỉ những quán tương đối
sang mới có. Tờ Telegraph gọi đây là “thức uống
mịn như nhung và dễ chịu, làm ta hồi phục cả sức khỏe lẫn tinh thần”.
Làm Irish coffee rất công phu, phải dùng nước nóng rửa ly thủy tinh có
chân, lau khô, rót rượu whiskey vào, phải là những loại whiskey “chân
chính” của Ailen như Bushmills hay Tyrconnell, thêm một muỗng đường
nâu, khuấy đều cho tan đường, lấy diêm châm lửa đốt rượu vài giây để
giảm độ cồn trong rượu và cân bằng hương vị giữa cồn và caffeine, đúng
là “nghề chơi cũng lắm công phu”. Rót đầy cà
phê thật nóng và đậm đặc cách miệng ly đúng 1cm, chờ một lúc để hỗn hợp
rượu và cà phê hòa lẫn vào nhau mới cho kem tươi (whipped cream) trắng
muốt lên trên, không khuấy nữa vì bí quyết uống Irish coffee là nhấm
nháp cà phê nóng xuyên qua lớp kem lạnh. Tuyệt
vời nhất là chui vào chăn vừa đọc báo vừa uống món cà phê làm ta chếnh
choáng này vào những ngày mưa lạnh và sương mù giăng kín khắp nơi. Bởi
vậy lâu lâu tìm hoài không thấy cái dĩa yêu thích nhất trong bếp và
biết ngay “thủ phạm” Paddy ăn xong chưa rửa, Jannette và tôi cũng vui
vẻ đi kiếm dĩa khác, không càu nhàu chút nào. Mê
tìm hiểu về cà phê nên sang Pháp, tôi như cá gặp nước. Trong một cuốn
sách tôi đọc, dù không phải dân tộc đầu tiên uống cà phê nhưng người
Pháp đã có không ít cải tiến cho thứ nước uống đã được nâng lên tầm văn
hóa này, như việc cho thêm đường vào cà phê vào đời vua Louis XIV. Cuối
thế kỷ 17, việc uống cà phê pha sữa trở nên phổ biến khi một bác sĩ
người Pháp khuyên nên dùng café au lait (cà phê sữa) để cải thiện sức
khỏe. Có đến Pháp mới thấy dân tình uống cà phê “dữ dội” đến mức nào. Sáng
sớm, trong những quán cà phê hè phố hay những tiệm ăn Paris, dân văn
phòng ai nấy cũng nâng tách cà phê, có thể là café au lait to tướng như
chén ăn cơm, gồm một nửa cà phê một nửa sữa tươi nóng bốc khói nghi
ngút, mờ cả mắt kiếng, café serré đậm đặc vì chỉ có một nửa lượng nước
so với cà phê đen thông thường, hay café crème màu nâu có kem thơm và
béo, uống một hơi rồi tất tả đứng dậy xách cặp chạy ra bến tàu điện
ngầm. Nhưng phần lớn thời gian, người Pháp
thích ngồi rề rà trong quán nhâm nhi cà phê với mấy viên sôcôla đen hay
kẹo truffle mềm, thư giãn và tán dóc, y như ở Việt Nam. Những lần rề rà
“nhập gia tùy tục” ở những quán cà phê Paris, tôi thích gọi un
noisette, món cà phê giống espresso nhưng có pha ít kem hay sữa, đơn
giản chỉ vì thích được nghe người phục vụ hỏi lại “Un noisette?” bằng
thứ giọng mũi rất đáng yêu của người địa phương. 2g
khuya một ngày Paris cuối tuần đẹp trời, sau một bữa ăn no nê, trong
khi chúng tôi nhấm nháp tráng miệng, anh bạn người Pháp tên Ben gọi một
tách cà phê. Thấy tôi tròn mắt nhìn, anh khoát tay: “Không có cà phê
tôi… không ngủ được”. Khi được hỏi sao lạ đời
quá vậy, Ben cười “Ở đây ai cũng vậy hết mà!”. Quán đông, mãi nửa tiếng
sau, anh chàng phục vụ mới mang cà phê lại, bị cằn nhằn, anh này chỉ
nhún vai, cái nhún vai đặc trưng kiểu Gôloa, với hai vai kéo lên tận
mang tai và hai bàn tay ngửa ra, ý nói “Tôi không biết. Không phải tại
tôi”. (Nếu bạn muốn thấy cái nhún vai tương tự, hãy để ý Thiery Henry
lúc bị trọng tài thổi phạt khi đá cho Arsenal). Nhưng
tách cà phê sóng sánh thơm phức kia chắc ngon lắm nên Ben không nhăn
nhó nữa, vả lại những anh chàng và cô nàng phục vụ người Paris vẫn nổi
tiếng thế giới vì sự đỏng đảnh. Tôi trải qua ba
tháng uống trà thay cà phê ở xứ sương mù trước khi đến Ý, “kỳ phùng
địch thủ” của Pháp trong việc chiếm trái tim dân ghiền cà phê. Quả
thật, ở quốc gia xinh đẹp này việc uống cà phê được xem như một môn
nghệ thuật. Espresso bạn uống ở khách sạn năm sao nơi khác có thể được
người pha chế lừng danh pha từ máy espresso loại xịn, nhưng tôi mạo
muội nói không thể sánh bằng espresso đậm đặc, đắng và thơm trong tách
nhỏ xíu uống tại một trong những torrefazione bên một cây cầu gỗ với
những ngôi nhà kiểu Phục hưng, do một cô nàng người địa phương tóc đen,
mắt cũng đen láy, pha rồi bưng ra kèm một câu chúc uống ngon miệng bằng
tiếng Ý du dương. (Đặc biệt nữa, nếu không muốn bị dân địa phương cười
thầm, bạn đừng gọi espresso thành expresso, có nghĩa là tàu tốc hành) Nhưng
tôi thấy cappuccino ngon và dễ uống hơn, có lẽ vì loại thức uống này có
1/3 espresso, 1/3 sữa tươi nóng để làm “mềm” bớt vị đắng của cà phê, và
1/3 bọt sữa mịn màng có rắc bột quế hay bột sôcôla xay li ti lên trên.
Thức uống này đã chiếm lĩnh thực đơn từ những quán bar rất “hip” ở
trung tâm Manhattan của New York ồn ào náo nhiệt đến những thị trấn xa
xôi quê mùa ở Marốc, nơi người phục vụ cả đời chưa gặp khách du lịch
nước ngoài. Tôi đo lường sự lịch lãm nổi tiếng thế giới của người Ý
bằng khả năng uống cappuccino rất nhanh nhưng khi uống xong bọt không
trắng cả mép như những “người trần mắt thịt” khác. Du khách đến đây,
đặc biệt là người Mỹ, dù có sang trọng cách mấy cũng hay bị cho là “nhà
quê” vì quen gọi cappuccino sau bữa trưa hoặc bữa tối, mà theo dân địa
phương là không đúng điệu chút nào. Người Ý chỉ uống món này trong bữa
sáng hoặc dành thời gian riêng trong ngày để thưởng thức cappuccino như
một món riêng biệt, và đặc biệt rất chăm chút bọt sữa, không bao giờ
hớt bỏ hay khuấy bọt hòa lẫn vào cà phê vì làm như vậy mất hết “tinh
túy” của thức uống này mất rồi. Nếu quá nhiều
caffeine trong cơ thể làm bạn “tim đập chân run” không còn sức lang
thang qua những con phố cổ nhỏ xíu đáng yêu ở Ý, hãy chuyển sang dùng
caffè hag, tức cà phê không có caffeine, hoặc granita di caffè con
panna, tức cà phê nóng pha ít đường, đổ vào khay đá tủ lạnh qua đêm cho
đông lại, khi uống mới bỏ vào máy xay nhuyễn với ít nước rồi rồi đổ đầy
vào ly, phía trên cho thật nhiều kem tươi ngon béo. Những ngày hè nóng
nực, du khách và dân địa phương ngồi lười biếng trong cái nắng tháng
bảy đổ lửa của mặt trời phương Nam, vừa uống món cà phê có cái tên dài
ngoằng này vừa nhìn thế giới chậm chạp trôi qua. Nhưng
“đi uống cà phê” ở Amsterdam lại là chuyện khác. Trước khi sang Hà Lan,
tôi vẫn biết Amsterdam là một trong những thành phố “quậy” nhất châu Âu
nhưng không ngờ lại tự do đến mức này. Thủ đô nhỏ bé này có cả một hệ
thống hơn 300 quán cà phê được cấp giấy phép cho khách mua và hút các
loại thuốc phiện nhẹ, cần sa (marijuana, weed, grass, hash, cannabis).
Việc hút những loại ma túy nhẹ đã được chính phủ hợp pháp hóa từ năm
1976, dĩ nhiên chỉ dành cho người trên 18 tuổi và với liều lượng dưới
5gr mỗi lần, đặc biệt những quán này không được bán bia rượu hay bất cứ
thức uống có cồn nào khác. Lý lẽ đưa ra nghe chừng cũng khá hợp lý: nếu
được phép hút những loại thuốc phiện nhẹ tại một nơi được quản lý đàng
hoàng, sẽ không ai ra đường mua những loại ma túy gây nghiện nặng như
heroin hay cocaine của những kẻ buôn bán bất hợp pháp, bằng chứng là tỉ
lệ người nghiện ma túy ở Hà Lan luôn ít hơn gấp nhiều lần so với Mỹ và
nhiều nước khác. Nhưng trộm nghĩ những điều luật tương tự chỉ có thể
được áp dụng ở những nơi ý thức thật sự cao mà thôi, nếu không rất dễ
biến thành con dao hai lưỡi. Những ngày ngắn
ngủi ở Amsterdam, vì hết phòng chúng tôi phải ở ngay khu phố dành cho
khách du lịch gần ga xe lửa trung tâm thành phố, nơi tập trung rất
nhiều quán cà phê kiểu này. Mỗi lần đi ngang qua quán đúng lúc có người
mở cửa bước ra, mùi cà phê đâu không thấy, chỉ thấy mùi cần sa thoang
thoảng trong gió. (Mỗi lần tôi kể tới đây, đám bạn tôi lại rụt đầu, le
lưỡi: “Ghê quá, ngửi mùi vậy có ghiền không?”) Đối diện chỗ tôi ở là
một quán cà phê tên Grasshopper cao đến mấy tầng, buổi tối đèn màu xanh
châu chấu thắp sáng rực soi bóng xuống con kênh nước chảy loang loáng.
Khi gặp cô bạn người Hà Lan lái xe tận Ultrech lên Amsterdam dẫn chúng
tôi đi chơi, tôi đòi qua đó uống cà phê, cô cười: “Gan quá ha? Biết
trong đó tụi nó làm gì không?” rồi đưa hai ngón tay trước miệng làm
hiệu như đang “phê” thuốc. Khi được hỏi có hút không, cô bảo: “Hồi trẻ
ở đây ai chẳng thử, phần lớn thấy chẳng có gì hay ho nên thôi. Thông
thường cái gì cấm đoán người ta mới thích, với lại còn tùy ý thức mỗi
người mà”, rất thản nhiên như được hỏi có thích chơi bóng bàn không
vậy. Bởi không có gì hay ho nên cô quyết định
đưa chúng tôi đến một bruine kroeg (tiếng Hà Lan nghĩa là quán cà phê
nâu, ban đầu tôi cứ tưởng đây mới là loại hình cà phê như đã đề cập ở
trên, vì tên gọi dễ liên tưởng đến… nàng tiên nâu, nhưng không phải).
Đó là một trưa hè nóng gần 38 độ C, dân tình khoái chí đổ hết ra đường
phơi nắng tận hưởng cái nóng phương Bắc hiếm hoi. Những chiếc bàn kê
bên ngoài, dọc theo bờ kênh của quán cà phê nâu chúng tôi đến đã chật
ních, nhưng để thật sự hiểu được hết chữ “gezellig” mà người địa phương
rất thích dùng, nghĩa đại loại là ấm áp, thân mật, vui vẻ…, bạn nên
ngồi bên trong. Những bruine kroeg ở Amsterdam đã có tuổi đời vài trăm
năm, với cách trang trí như trong những chiếc tàu thủy xưa, xà nhà nặng
trĩu, ván lót sàn và bàn ghế gỗ sẫm màu, tên gọi của nó có lẽ bắt nguồn
từ những bức tường ám khói thuốc lá nâu qua thời gian, dưới sàn có cả
cát biển và trải thảm Ba Tư để lau cà phê hay bia bị tràn. Trong quán
chúng tôi đến có cả một cây kèn khổng lồ kiểu xưa để trong góc. Cà phê
Hà Lan không đặc sắc lắm nên chúng tôi, cũng như hầu hết những người
vào bruine kroeg, mặc dù gọi là “đi uống cà phê” nhưng lại chọn bia,
vốn là đặc sản ở đây. Mãi đến khi tới Stockholm,
tôi mới tự nghiệm ra một chân lý là quốc gia nào uống nhiều bia như
Anh, Scotland, Đức, Bỉ, Hà Lan… sẽ không uống nhiều cà phê và ngược
lại. Bởi vậy, không ngạc nhiên chút nào khi biết ở Thụy Điển, nơi bia
bị đánh thuế rất nặng và đắt gấp bốn, năm lần những nước châu Âu khác,
cà phê là một phần không thể tách rời cuộc sống. Ở Thụy Điển có một từ
rất phổ biến, fika, nghĩa là đi uống cà phê, thoát khỏi những bận rộn
thường ngày của cuộc sống, gặp gỡ bạn bè cũ, làm quen bạn mới, tán gẫu…
Fika gần như một thứ tôn giáo ở đây, người ta có thể fika sáng, trưa,
chiều, tối, trong những Kafekoppen ấm cúng. Sau một ngày quanh quẩn
trong thành phố Bắc Âu này, qua khu phố cổ muôn màu Gamla Stan với
những con đường đá cuội nhỏ bé chỉ dành cho khách bộ hành, chúng tôi
nghỉ chân nơi Stortorget, quảng trường chính của thành phố có đặt nhiều
ghế dài và những chậu hoa tươi thơm dìu dịu, có trong rất nhiều tấm ảnh
của ban nhạc người Thụy Điển ABBA, nghe mùi hạt cà phê rang từ những
quán cà phê dọc quảng trường ngào ngạt trong không gian. Thụy
Điển đắt đỏ nhất trong số những nước tôi từng đi, mỗi lần qua những
nước EU khác đều có thể ăn uống thoải mái vì vật giá rẻ hơn ở Anh,
nhưng qua Thụy Điển, ông bạn Alastair và tôi phải thực hiện chính sách
“thắt lưng buộc bụng”. Song mùi cà phê mới pha thơm lừng như níu bước
chân làm tôi tự thưởng cho cả hai một chầu trong Sundbergs Konditori,
tiệm cà phê và bánh ngọt xưa nhất Stockholm, có từ năm 1785, nhỏ xíu và
ấm áp với những ấm samovar bằng đồng đựng đầy cà phê mới pha sóng sánh
nóng bỏng, đặt trên bàn thấp cạnh quầy để khách tự rót lấy. Bánh ngọt ở
đây quả tuyệt vời. Tôi ăn một chiếc bánh không biết tên, mềm và dẻo như
tan trong miệng, chính giữa có một lớp mứt mỏng vị thanh thanh dễ chịu,
trên trải kem mềm và dày làm từ một thứ trái cây ngòn ngọt màu vàng
mướt. Cà phê ở đây hơi giống caffè Americano, đựng trong những tách dày
và nặng bốc khói nghi ngút, không đậm đặc nhưng đủ độ mịn và đắng để đi
kèm với các loại bánh ngọt thơm phức cô phục vụ đang bê ra trên những
khay gỗ từ lò nướng bên trong. Bán đảo
Scandinavia vào thu sớm hơn những nơi khác, lá vàng xào xạc rụng đầy
những công viên và trời đã lạnh hơn nhiều. Mặc dù vậy, những quán cà
phê Stockholm vẫn kê bàn ghế ra vỉa hè cho dân tình ngồi “fika”, và vì
trời lạnh nên quán nào cũng để sẵn… mền cho khách quấn nếu chọn ngồi
ngoài. Những chiếc mền cũng là một phần trang trí của quán, được mua
thành bộ có màu sắc hợp với bàn ghế và màu sơn tường, đặt cạnh ghế
ngồi. Thật buồn cười khi thấy mọi người uống cà phê kiểu alfresco,
nhưng không đeo kiếng đen trong cái nắng chói chang mà vừa ngồi quấn
mình thu lu trong mền vừa nhấm nháp cà phê nóng hổi, thỉnh thoảng lại
xuýt xoa co ro vì cơn gió buốt giá từ mặt hồ Malaren thổi tới. Chỉ
cách Thụy Điển vài tiếng đồng hồ bay nhưng Hy Lạp là một thế giới khác
hẳn, với nắng vàng biển xanh và cái nóng Địa Trung Hải làm người ta uể
oải, chỉ muốn… đi uống cà phê. (Quả vậy, dù trời nóng hay lạnh dân châu
Âu cũng kiếm cớ uống thứ thức uống dễ ghiền này). Để phù hợp với khí
hậu ở đây, đã có frappe, món cà phê đá đặc trưng Hy Lạp không kém bánh
pita kẹp thịt nướng hay yaourt ăn với mật ong. Trên khắp đất nước khi
xưa đầy ắp những chuyện thần thoại này, ngày nay đâu đâu cũng thấy
những quán cà phê (kafeneio) đầy khách uống frappe: Từ thủ đô Athens
đông đúc ồn ào không kém Sài Gòn, nơi khi đi bộ trên vỉa hè chật hẹp
bạn phải vừa trông chừng luồng xe cộ đi loạn xạ trên lòng đường sát bên
và xe hơi đậu không theo trật tự, vừa tránh những bộ bàn ghế kê bên
ngoài quán; đến những hòn đảo vắng vẻ với những tòa nhà sơn trắng mát
mắt và gió biển mang theo vị muối mằn mặn. Cách làm frappe khá đơn
giản, chỉ cần Nescafe, nước lọc, đá, đường, cho vào đồ trộn cocktail
xốc mạnh trong vòng nửa phút, rót vào ly để đá kèm uống hút là bạn đã
có thứ thức uống dễ chịu đầy bọt li ti thơm và mát lạnh làm dịu đi cái
nóng mùa hè Địa Trung Hải. Nói về khoản ngồi dầm dề ở quán cà phê,
người Pháp hay người Việt ắt hẳn thua xa người ở đây. Bất cứ lúc nào
trong ngày, bạn cũng có thể thấy người địa phương ngồi quán, từ những
quán cà phê lớn sang trọng thắp đèn thủy tinh vàng lóng lánh đến những
quán tạm bợ với vài bộ bàn ghế lỏng chỏng, nhiều nhất vẫn là những ông
già vừa uống nước vừa đánh cờ. Sách du lịch Fodor nói: Ngôi nhà là nơi
trú ngụ của trái tim, nhưng với phần lớn người Hy Lạp, quán cà phê mới
là nơi trú ngụ của trái tim, nhà chỉ là nơi… về ngủ. Phần
lớn thời gian hai tuần ở Hy Lạp, tôi ở với gia đình bạn tôi trên đảo
Evia, hòn đảo vắng vẻ không có khách du lịch cách Athens hai giờ vừa đi
phà vừa lái xe. Ngày cuối cùng trước khi về, chúng tôi sang chào gia
đình hàng xóm và được thưởng thức món cà phê Hy Lạp (Greek coffee)
tuyệt vời. Trong bất cứ một ngôi làng nào trên đất nước hiếu khách đầy
nắng và gió biển, đây cũng là thức uống “làm đầu câu chuyện” mang ra
mời bạn đến nhà. Nhưng nếu cà phê phin Việt Nam làm bạn “xây xẩm” thì
nên dè dặt khi thử thứ cà phê đậm đặc gấp nhiều lần này, được nấu sôi
trong ấm bằng đồng có tay cầm dài và miệng rộng, gọi là ấm ibrik. Bà
chủ nhà đứng tuổi rắc vào bột cà phê xay nhuyễn mịn một ít hạt gia vị
có mùi hơi giống hoa hồi, rồi cho nước vào nấu sôi trong ấm ibrik đến
ba dạo trước khi rót vào tách. Những chiếc bánh quy giòn bà mới nướng
làm cân bằng vị đắng và tăng lên vị thơm có hậu ngọt của Greek coffee
làm chúng tôi nhấm nháp hoài không chán, khi bên ngoài mặt trời đỏ rực
bắt đầu lặn xuống biển và gió đại dương thổi lao xao những cây ôliu
xanh rờn ngoài sân. Và đến buổi trưa nọ tình cờ
theo chị đi bộ trên con đường giày dép gần chợ Bến Thành, quầy cà phê
bên hông chợ với những chiếc ghế nhựa thấp lè tè có lẽ sẽ khuất trong
những tấp nập đường phố không để lại chút ấn tượng gì nếu người bán
không dùng muỗng khuấy đá, cà phê và sữa đặc trong ly lên với một âm
thanh rồn rột vui tai. Và nhất là cái mùi quen thuộc ấy, mùi cà phê
phin nhỏ từng giọt mới pha, nóng và thơm, sực nức không gian bụi bặm ồn
ào làm tôi đứng nhìn sững, vừa nhìn vừa nuốt nước miếng. Mùi thơm quyến
rũ ấy làm tôi nhớ những ngày học cấp hai theo mẹ đi chợ uống cà phê sữa
đá, hay khi lang thang ở châu Âu, bên ngoài tuyết rơi lạnh cóng nhưng
vừa bước vào quán hai má đã nóng rực lên… Những ngày đi uống cà phê ấy,
“ngỡ đã xa xăm bỗng về quá thênh thang…”
Ngô Thị Giáng Uyên / báo Tuổi Trẻ

|