|
- Võ Phiến -
Cậu Bảy giọng ấm. Cái hay ho ở cả nơi chỗ tốt
giọng đó. Còn các điệu “nói” kỳ thực không có gì xuất sắc. Một điệu,
phỏng theo lối hát bài chòi, đặc biệt ở các chữ “cò”, dặm liên tiếp: “Trịnh cò Hâm khi cò ấy ra cò tay Vân cò Tiên bị cò gã xô cò ngay xuống cò vời.”
Bây giờ giá có ai đem thơ lục bát ra trình bày theo
kiểu ấy, chàng đinh ninh là người ta muốn chế giễu điệu dân ca địa
phương mình. Nhưng hồi còn xúm xít bên cậu Bảy nghe Vân Tiên thì lúc
cậu hạ xuống chữ “cò vời... ời...” chàng thấy thấm thía lắm. Xung quanh khối người cảm động... “Xô cò ngay xuống cò
vời... ời... ì”. Bắt đầu chậm từ chữ “ngay”, đứng lại ở chữ “vời”; phải
dừng lại đây một chút để ai nấy kịp suy nghĩ về tai họa vừa xảy đến cho
Vân Tiên.
Truyện Vân Tiên của cậu Bảy có những đoạn khác lạ. Chẳng hạn: “Phút đâu Bùi Kiệm vừa về, Thấy chị Nguyệt Nga bận quần lãnh tía áo xa-tanh lưỡng đoạn.”
Hồi
cụ Đồ Chiểu mở truyện Tây Minh đọc dưới đèn cụ không trông thấy trong
sách xưa bên Tàu một Nguyệt Nga mặc áo xa-tanh. Mặc kệ chứ. Người phóng
tác ra bản Vân Tiên của cậu Bảy tỏ ra không nệ sách, mà được trai gái
vùng chàng chịu lắm.
Cậu Bảy là nghệ sĩ. Và tuy ở trong xóm làng
quê kệch, cậu cũng sống cái đời tài hoa của một nghệ sĩ. Cậu có lắm bạn
bè, cậu giải trí nhiều mà làm công việc thì ít, cậu có nhân tình nhân
ngãi sớm mà vợ con thì muộn. Đại khái thế.
Tuy nhiên cậu có cuộc
đời của cậu và chàng có đời chàng. Ngay đến cuộc đời của chàng nó cũng
như gãy rời ra, mất ở chỗ này một đoạn, lìa ở chỗ kia một đoạn, xa lạc
nhau, không dính dấp gì với nhau, khiến nhiều lúc gặp lại chàng đâm bỡ
ngỡ, huống hồ là cuộc đời của cậu Bảy. .... Từng mảnh đời như thế
ngổn ngang trong mỗi cuộc sống, ai hơi sức đâu và thì giờ đâu kiểm điểm
lại cho hết. Sống trước quên sau, cứ thế cho xong, đối với ngay chính
đời mình cũng vậy, huống hồ đời người khác. Họa hoằn mới có một cơ
hội... Thường thường, đó là vào dịp... sắp tắt hơi. Người ta bảo vào
một vài giây phút cuối cùng con người chợt nhìn thấy được tất cả cuộc
đời mình, rất nhanh mà rất đầy đủ. Nhà triết lý luận rằng đời sống bắt
buộc con người phải hướng về phía trước để dồn các khả năng vào việc lo
liệu cho tương lai, vì vậy Tạo hóa khôn ngoan và chu tất bèn che kín
phía quá khứ để cho các năng lực tinh thần của con người khỏi tản mác
uổng phí và nguy hiểm. Ngoại trừ trường hợp các nghệ sĩ là những kẻ
không quan tâm đến cuộc sống thực tế cho nên tha hồ tẩn mẩn trầm mình
vào dĩ vãng, và ngoại trừ lúc con người sắp lìa đời, sự lo lắng thiết
thực không cần thiết nữa, Tạo hóa bèn mở tấm màn che cho tất cả quá khứ
tràn về một loạt.
Nhà triết học có phải đã quên những trường hợp
uống cà-phê ? Trong lúc con người ngồi trước tách cà-phê, đấng Tạo hóa
siêng năng và thực tiễn vào dịp ấy cũng đâm ra đãng trí. Hai chân len
lén rút ra khỏi đôi giày da chật chội, đạp trên chiếc ghế con bỏ trống
bên cạnh, hay gác lên bờ tường thấp, ngã người trên lưng ghế, ngước
nhìn lên trời (bầu trời vắng vẻ cao vời vợi), từ từ đảo mắt quan sát
xung quanh một cách biếng nhác (trong khoảng sân của quán cà-phê lộ
thiên từng nhóm từng nhóm tự khép lại như những ốc đảo riêng biệt),
trên bàn phin cốc đã sẵn, bình thủy nước sôi đã sẵn, ta ngồi chờ... Bấy
giờ, cứ một giọt cà-phê rụng xuống là trăm nghìn câu chuyện cũ dâng lên
trong ký ức, lan man bất tuyệt...
Cà-phê
rụng xuống không vội vã, ồ không! Một giọt cà-phê biết tự trong không
bao giờ vội vã. Dù cho giữa khung cảnh sinh hoạt hấp tấp tơi bời của đô
thị văn minh ngày nay, giọt cà-phê chân chính vẫn bình tĩnh thong thả
tụ hình, đắn đo, đủng đỉnh lắc lư, suy tư, chán chê rồi bấy giờ mới
chịu buông mình xuống tách. Về cái phong thái đĩnh đạc cẩn trọng, dám
chắc những giọt cà-phê của thế hệ hôm nay không có gì để hổ thẹn với
những giọt cà-phê tiền bối năm ba thế kỷ trước.
Cà-phê rụng
chậm, như thế là phải. Nếu nó rụng khác đi thì chàng đã không có cớ gì
thì để xẩm tối hôm ấy nhớ đến tiếng tu hú kêu sau vườn nhà cậu Bảy. Đây
là những tiếng tu hú mười lăm năm về trước. Bây giờ thì cậu Bảy không
có vườn mà cũng không có nhà nữa.
Cậu Bảy là nghệ sĩ, đêm ở nhà
cậu, trước kia, có nhiều cuộc vui, có nhiều người lui tới hơn ở các nhà
khác trong làng. Chàng đến đó vui chơi, và lắm khi ở lại ngủ luôn. Ngủ
đêm ở nhà cậu Bảy thì đến khuya, lúc bạn bè dần dần rút về hết rồi, đàn
hát dẹp rồi, ai nấy tìm chỗ nằm, một ngọn đèn hột vịt được vặn nhỏ tí
ti đem đặt trên chiếc bàn con giữa nhà, nấp sau một cái bình tích đứng
che bớt ánh sáng. Trong vắng vẻ bấy giờ nghe tiếng con chim kéo vải kêu
íp íp đều đều. Lúc trong nhà còn đông người ồn ào thì tiếng ấy không ai
để ý. Vậy, ở nhà cậu Bảy, người ta ngủ trong tiếng chim kéo vải đổ đều
thâu đêm như thế.
Nhưng cái đặc biệt là lúc trời tờ mờ sáng. Ngủ
ở nhà cậu Bảy không bao giờ chàng thức dậy muộn hơn: lần nào cũng là
vào lúc mặt đất còn mập mờ từng vũng bóng tối, da trời hơi biêng biếc
một màu thiếc lạnh, vài ngôi sao lạc lõng còn đang thoi thóp đó đây,
không khí còn ủng mùi sương ướt, vào ngay lúc ấy chàng đã vụt thức giấc
vì tiếng tu hú kêu ngoài vườn. Bên chỗ chàng nằm có cửa sổ, ngoài cửa
sổ là mấy bụi mía. Tu hú kêu, chàng hé cửa ra, lá mía cắt những đường
nét khỏe mạnh, bấy giờ hãy còn là màu đen. Hơi sương tràn vào khiến
chàng tỉnh táo. Tu hú tiếp tục kêu. Gà lần lượt xuống sân, đàn gà con
ban đầu líu ríu quanh mẹ chưa muốn tản ra xa. Tu hú lại kêu nữa. Dần
dần chân trời phía đông ửng đỏ một vùng, chàng bắt đầu trông rõ cây rù
rì đen xũ lá bất động bên bờ ao giữa đồng; chàng bắt đầu trông thấy tàn
cây thị già tỏa ra đồ sộ ở bìa rừng bên nhà; cây thị, cây tam thất, rồi
cây quăng, cây cầy v.v...
Chàng không biết một thứ tiếng chim gì
như tiếng chim tu hú lúc rạng đông. Nó tràn đầy sinh lực. Thật là một
tiếng chim kỳ lạ. Con tu hú, không biết nó rình rập ra sao, nhưng bao
giờ cũng là chính nó bắt gặp bình minh trước tiên, và lớn tiếng tri hô
cho ai nấy đều hay.
Thực vậy, ngủ ở nhà cậu Bảy, chàng có cảm
tưởng thời gian tiến tới mỗi bước đều trịnh trọng. Không có phút nào bị
bỏ qua. Luôn luôn có sự đón đợi, rình chờ, nghe ngóng. Suốt đêm con
chim kéo vải vẫn canh thức, ngọn đèn hột vịt vẫn canh thức. Canh thức
kín đáo - ngọn đèn lim dim, tiếng chim buồn buồn - nhưng cần mẫn bền
chí. Đêm thong thả chuyển biến, âm thầm chuyển biến, để rồi đến một lúc
nó hóa ra ngày. Lúc nào vậy? Cái lúc quan trọng ghê gớm đó là lúc nào
mà êm ru vậy? Tất cả đều thấp thỏm, nhưng bao giờ cũng chỉ có con tu hú
là nhận ra lúc đó trước tiên.
Tiếng tu hú không thỏ thẻ, không
ríu rít, cũng không véo von. Nó không có cái công dụng của những tiếng
chim khác. Tiếng tu hú bất chợt gióng lên lảnh lót lúc còn tờ mờ tối,
như một nguồn vui tưng bừng. Rồi nó lăng xăng, gióng giả, đôn đốc, thúc
đẩy. Tu hú, tu hú! Các ngôi sao cuối cùng vội vã lặn mất. Chân trời
phía đông từ màu đen âm u chuyển ra màu trắng ửng. Tu hú, tu hú! Chân
trời từ trắng thành đỏ. Ơ, con chim kéo vải tịt đâu mất? Tịt mất hay nó
vẫn còn kêu mà không ai chú ý? Lá mía lá dừa hiện ra, đen, rồi xanh.
Rồi ánh sáng ùa lên tràn khắp đồng, sương nhấp nháy trên cỏ, trên lúa.
Nắng mênh mông. Ngày toàn thắng. Lúc bấy giờ con tu hú nghỉ ngơi chăng?
Nó nghỉ hay nó vẫn còn kêu mà không ai chú ý?
Ngủ đêm ở nhà cậu
Bảy là như thế. Mỗi đêm đều như đêm ba mươi tết, như tối giao thừa. Sự
đón đợi cái giờ phút đầu tiên của ngày bao giờ cũng thấp thỏm tưng bừng
như thuở khai thiên lập địa. Sự đón đợi của cỏ cây muông thú, của thiên
nhiên, bao giờ cũng thế chăng? Chỉ có con người là chây lì, là dám coi
thường sự lặp lại của nhịp đêm ngày chăng? Nhà cậu Bảy được dự phần vào
không khí đón đợi ấy là vì ở gần bìa rừng, gần ao hồ chăng? Hay vì cậu
Bảy là nghệ sĩ?
Dầu sao, trong buổi ấu thời của chàng những buổi
bình minh ấy là nhất. Đêm nghe kể chuyện chị Nguyệt Nga mặc quần lãnh
tía, sáng thức dậy trong tiếng chim tu hú vang lừng, thế là nhất.Về sau
này, lớn lên, sau những đêm thức khuya vui chơi đàn hát ở đô thị, sáng
dậy chàng thường cảm thấy rã rời, tâm hồn lây sự mỏi mệt của thể xác.
Đêm vui chơi ở nhà cậu Bảy không để lại dư vị chán chường như thế. ... Trong quán Thu Hương, ở một góc sân, chàng theo dõi giọt cà-phê mới vừa rụng, chàng lắc đầu: Nhảm. Nhảm quá cỡ.
Thực vậy, giọt cà-phê thường khi nhắc nhở những điều nhảm nhí.
Trong
trí chàng rụt rè lấp ló hiện về sự phân vân về cảnh tượng người đàn ông
mất tai. Quán phở của người trưởng ty Công an cũ vì ở gần nên chàng vẫn
thường lui tới, có khi chỉ để uống một ly nước ngọt, một tách cà-phê
rót từ trong siêu ra. Người thợ nấu phở loay hoay ở cái bếp phía cửa ra
vào, một cậu bé đi đi lại lại để bưng thức ăn hầu khách, chủ quán ngồi
sau quầy, mắt thường nhấp nháy. Một cửa tiệm như thế là bình thường.
Nghĩa là ở mặt tiền nó không có gì đáng chú ý. Thế nhưng sau quầy hàng
có một vuông cửa sổ, trông qua cửa sổ ấy thấy thấp thoáng chút ít về
cái sinh hoạt ở hậu trường, một thứ sinh hoạt có nhiều mơ hồ, u ẩn, rắc
rối. Sau đó bao giờ cũng tối, tuy có một bóng điện vàng cạch thắp suốt
ngày. Vách tường ám khói đen thui, đồ đạc ngổn ngang chật chội. Sau đó,
có khi chàng nghe tiếng khóc tỉ tê, có khi tiếng kể lể của người già,
có khi chàng bắt gặp hai cặp chân đàn ông và đàn bà dừng lại giữa cầu
thang gác, quấn quít lén lút, có khi những tiếng hằn học, rì rầm... Chủ
quán ngồi nhấp nháy đôi mắt, cách cái sinh hoạt ấy nửa thước tây, như
án ngữ để che đậy.
Cái gì sau đó? Có thể cũng là một sinh hoạt
bình thường, với đủ chuyện ai, lạc, ái, ố..., cũng bình thường như
ngoài mặt tiền, nhưng bình thường theo lối riêng của thứ sinh hoạt hậu
trường. Có thể trí tưởng tượng của chàng đã làm việc quá nhiều. Nhưng
cũng có thể cái hậu trường ấy có nhiều u ẩn rắc rối thật, và đó là
nguyên do gây ra những thăng trầm bất ổn trong cuộc đời người trưởng ty
cũ.
Trong mùa mưa, một hôm chàng ngồi ở tiệm phở đến gần tối mà
không thấy có đèn. Điện bị cúp bất ngờ. Bóng tối từ phía sau tràn qua
quầy hàng, ngập đầy phòng trước. Ở buồng trong, tối tăm, sinh hoạt lại
càng thêm nhiều rì rầm khả nghi, như những khổ đau buồn thảm, nhốn
nháo, mà một người muốn giữ riêng trong lòng. Vẻ đứng đắn, bình thường
ở gian phòng trước, có vẻ vờ vĩnh.
Đèn cầy chưa kịp đốt mang ra,
trong quán lác đác đôi ba người. Ở chỗ góc gần lối thông ra phòng sau,
bên cạnh quầy hàng, có hai người đàn ông đối diện nhau với chai 33 trên
bàn. Chàng vẫn tưởng họ chỉ uống. Bấy giờ chàng mới để ý rằng họ đang
ăn. Họ tiếp tục ăn trong bóng tối mập mờ. Bóng tối mỗi lúc một đậm màu
trùm lên họ; chú ý nhìn: bóng tối như xao động chuyển dao. Một người
đưa đũa lên gắp lấy vành tai kẻ đối diện, kéo nhằng ra. Người kia co
rúm lại, không một tiếng kêu. Nhưng chắc chắn là người thứ nhất đã gắp
được tai, điềm nhiên nhúng vào tô, ăn thong thả. Hai thực khách đều
lặng lẽ. Chủ quán ở bên cạnh, lặng lẽ.
Mỗi lúc chàng mỗi lo âu,
khiếp đảm. Sự bí mật đã vượt qua khung cửa nọ, từ phòng sau lan ra tới
trước? Người chủ quán liệu có vẫn thụ động, bất lực? Thực khách nọ lại
đưa đũa lên, nhằm một phía tai khác. Tai nạn chỉ còn gang tấc nữa là
xảy ra. Bỗng nhiên đèn bật sáng. Phía tai kia được cứu thoát. Ngồi ở
xa, chàng xem chừng trên gương mặt nạn nhân còn nét kinh hãi. Hai người
kêu thêm la-ve, ăn nữa uống nữa, hồi lâu mới đứng lên.Lúc họ đi ngang
qua trước mặt, chàng trông thấy rõ ràng người khách mất một vành tai,
thành sẹo đã lâu.
Trong mùa mưa vừa qua, nhiều buổi chiều chàng
lân la ngồi muộn ở quán phở nọ. Càng ngày chàng càng có cảm tưởng phía
sau đời sống của người chủ quán phong trần có nhiều khốn đốn, trắc trở,
âm thầm, dày đặc. Ngồi trước tách cà-phê khét và chua của ông ta, chàng
mở mắt chiêm bao những điều kỳ dị, hãi hùng.
Ở đô thị, người này
không dễ xâm nhập vào cuộc sống người kia, dẫu tiếp cận thường xuyên
từng cuộc sống vẫn cách nhau. Chàng tha hồ chờn vờn quanh người chủ
quán, vẫn không vào được trong cái bí mật của ông ta. Chàng tha hồ lượn
vòng từ chuyện này tới chuyện kia, bao quát mọi người mọi cảnh, chàng
vẫn lẻ loi: tình trạng của một người chờ cà-phê nhỏ giọt. Không mấy khi
người ta vừa yên tĩnh một mình mà vừa lan man khắp nơi như khi ngồi
trước phin cà-phê. Đó là chỗ u cốc ẩn cư lý tưởng của người đô thị.
... Hôm
đó, tới nhà người bạn ngồi chờ hồi lâu không gặp, chàng bỏ đi. Ra tới
ngoài cổng, phân vân chưa tính đi đâu, chàng dừng lại, ngước nhìn lên
trời. Mắt chàng ngừng lại ở một chiếc dù bằng nhựa mỏng treo toòng teng
trên dây điện, chiếc dù trẻ con chơi, to cỡ bàn tay xòe, có đeo theo
một anh lính bằng ngón tay trỏ, xam xám, từ từ xoay qua xoay lại trong
gió.
Một chiếc dù bị treo dính lơ lửng như thế là niềm thất vọng
của một chú bé con. Trên một quãng đường dưới trăm thước tây, chàng
nhẩm đếm được trên tám mươi chiếc dù. Trời, trẻ con đâu mà lắm thế. Một
ngõ hẻm chật chội thế này, đông đảo thế này, con nít nó phá, phải biết.
Chàng
không có được cái tính yêu trẻ. Nhất là cái đám trẻ kéo ra đầy các ngõ
hẻm đô thị, chúng ngỗ nghịch, ồn ào, quẩn chân, hỗn láo, phá phách,
chúng làm chàng bực, ghét. Thế nhưng buổi chiều hôm đó, chứng kiến
những niềm vui bé bỏng của chúng lơ lửng giữa trời, chàng tội nghiệp,
cảm động. Cảm động có lẽ tựa như một bà mẹ có đứa con đi xa, tình cờ mở
ngăn tủ đựng đồ chơi của nó ra bắt gặp những nắp keng, con búp-bê gãy
tay, cái cúc áo nhà binh, chiếc bóng điện hỏng v.v... Những đồ vật ấy
càng vô nghĩa, ngớ ngẩn bao nhiêu càng làm bà mẹ thương hại xúc động
bấy nhiêu.
Chàng cũng không có được cái khiếu tìm ra những chỗ
đáng yêu của đô thị. Thế nhưng chàng bỗng mủi lòng trước cái vui thú
nghèo nàn của đám trẻ. Một góc phố tồi tàn, hỗn tạp, lôi thôi, một
quãng đường ngóc ngách, chật hẹp, tự dưng chúng cũng có cách gợi một
xúc cảm nồng nàn. Chàng không còn dửng dưng thù nghịch với sinh hoạt đô
thị. Chàng đã bắt gặp cái linh hồn của các ngõ hẻm, ồ, thứ linh hồn ngộ
nghĩnh như những đuôi diều giấy, những chiếc dù nhựa ve vẩy trên sợi
dây điện!
Lâu ngày rồi chàng sẽ biết yêu nó như yêu những buổi bình minh xưa kia ở nhà cậu Bảy.
Chàng
lo lắng không biết trong khoảng sân của ngôi quán lộ thiên mà ấm cúng
này, rồi những giọt cà-phê nhỏ giọt chúng định đưa chàng lan man tới
đâu đây? Tiệm phở âm u, bác lái đò gãy chân, rạng đông trên một làng
sơn cước, cơn gió thổi cha con cậu Bảy tại phi trường v.v... Đủ mọi thứ
đầu cua tai nheo. Trong một kiếp nhân sinh ngắn ngủi giữa thời loạn,
chàng sống tản mác một cuộc sống đầu Ngô mình Sở, một cuộc sống rách
mướp, chắp vá. Mà cà-phê lại có cái thói hay đưa tâm trí con người ta
vào những phiêu lưu dật dờ càng xa xôi tản mác gấp mấy trong cuộc sống
thực. Bởi vậy ngôi quán chàng đang ngồi có cái sáng kiến rất hay là đối
diện với một nhà bán... quan tài danh tiếng nhất thủ đô. Nên như thế.
Khi người ta suy nghĩ quá dông dài nên có cái gì nhắc họ một sự kết
thúc. Và sực nhớ tới món thiết dụng cuối cùng của một đời người, chắc
chắn là lắm kẻ đâm cụt hứng, lo kết thúc vội vàng sự nghĩ ngợi viễn
vông.
Người
ta cho rằng dân Việt Nam có trên nghìn điệu dân ca, tất cả chỉ nguyên
xung quanh hai câu lục bát mà thôi, đó là hiện tượng hiếm hoi trên thế
giới. Điệu dân ca với chữ cò của cậu Bảy nhất định đã góp mình vào hiện
tượng ấy. Chàng ước ao có dịp nào chữ cò ấy đề cập tí chút tới cà-phê
để phả vào nó một tinh thần dân tộc. Chẳng hạn:
“Rung cò rinh một cò giọt cà cò phê Cà cò phê một cò giọt trăm cò bề bâng cò khuâng”
Chỉ ngại khi giọt cà-phê nó biết mình được ca tụng kiểu ấy, nó sẽ không còn màu đen hay màu nâu, nó sẽ đỏ ửng lên vì thẹn mất.
Cậu Bảy nghệ sĩ với nét mặt của cậu ám ảnh chàng, nét mặt thoạt rắn lại khi bị quan sát. Chàng chịu cậu.
Chàng
tự biết không còn được thế. Những nhồi xóc liên tiếp của thời thế đã
làm chàng mềm oặt như con bún. Chàng bị xô đẩy từ vị trí này đến vị trí
khác, hết buồn phản ứng. Đâu đâu cũng một kiếp trầm luân. Cậu Bảy, khi
cậu sẩy chân tuột giốc, coi bộ cậu bất bình, cậu cự nự. Vâng, hình dáng
cậu có xác xơ, thần sắc cậu có bơ phờ, nhưng cậu mím miệng, nghiêm rắn
lại, trông cậu vẫn ra gì, vẫn sự thể.
Nhưng như vậy được đến
chừng nào, cậu Bảy? Trải qua một hồi xáo trộn nữa, rồi ai đoán biết sẽ
gặp cậu ở đâu, gặp đứa con trai bé dại của cậu trong hoàn cảnh nào. Ai
biết được rồi thời thế sẽ đưa mình tới đâu? rồi mình làm cái thứ gì?
anh thợ hớt tóc chăng? anh bán phở chăng? tù nhân chăng? kẻ cướp chăng?
Hỡi Tạo hóa! Rồi ta sẽ hóa thành gan con chuột chăng? sẽ biến thành
cánh con bọ chăng? tay tả làm con gà, tay mặt làm hòn đạn chăng? Dĩ nhữ vi thử can hồ. Dĩ nhữ vi trùng tỵ hồ... Thử can hồ, trùng tỵ hồ... Can hồ, tỵ hồ...
“Nhữ cò vi trùng cò tỵ thử cò can Tý cò thần vi cò mã vi cò đàn vi cò kê”
Ấy chết! Thầy Trang thứ lỗi cho. Nhảm quá cỡ. Giọt cà-phê thỉnh thoảng lại đưa ra một điều nhảm nhí.
Những
lúc chàng mơ mộng vẩn vơ, cuộc đời mênh mông càng hóa mênh mông thêm,
những chuyển hóa bất ngờ của nó càng phiền tạp thêm, chàng mềm người
trong cảm tưởng tự phó thác.Chàng đã bị nhồi xóc đến điều, nổi chìm
thật dữ, nhưng - chàng biết - chàng vẫn không thể ghét bỏ cuộc đời này.
Hơn thế nữa, không thể không mến yêu nó. Đó mới là cái chỗ nhược căn
bản của con người.
Chàng biết mình mang nặng chỗ nhược ấy. Mai
sau, khi chàng đã nằm kỹ dưới ba tấc đất, áo quan lâu ngày - dù là thứ
áo quan tốt của cửa tiệm danh tiếng bên kia đường - sẽ mục rã, chàng
nằm yên tiếc rằng từ ngày chàng rời mặt đất sự chuyển biến trong thân
thể chỉ xảy ra có một chiều, không dành một chút gì bất ngờ. Hôm nay rã
đôi mắt, ngày mai mềm đến hai môi, ngày kia sập mất cái mũi... Cứ thế.
Chán quá đi mất.
Suốt mùa khô ráo thời gian dài bất tận, không
có bình minh, hoàng hôn, không có đêm ngày, không có gì nhắc nhở đến
cuộc sống trên kia. Thế nhưng khi mùa mưa đến thì khác. Nước mưa thấm
vào đất, âm thầm len lỏi qua nhiều lớp đất, như qua một cái phin vĩ
đại. Cuối cùng đến mặt áo quan, nó dừng lại một chút, lưỡng lự, ngập
ngừng, thăm dò. Nhưng áo quan đã mục: nó được phép. Bèn có những giọt
nhỏ xuống: một giọt bên phải, một giọt bên trái, một giọt... Thôi, đúng
rồi! đúng vào nơi trước kia vốn là trái tim của chàng. Chàng tê buốt cả
người, rồi tinh thần tỉnh táo như vừa mới tiếp nhận sinh khí. Đã lâu,
mòn mỏi đợi chờ, mới lại được tiếp xúc với một chút gì lọt từ trên kia
xuống, một chút trần gian. Và trong bóng tối của lỗ huyệt chàng tha hồ
miệt mài suy nghĩ không dứt về những tiếng gió thổi qua tàn lá, tiếng
tu hú trước buổi bình minh, quán hủ tiếu thưa khách nửa khuya, ánh hỏa
châu lúc gần sáng, vành tai một thực khách trong tiệm phở quen, diều
giấy chằng chịt trên dây điện ngõ hẻm v.v...
“Rung cò rinh một cò giọt trần cò gian Trần cò gian một cò giọt miên cò man chuyện cò đời”
Trong
một lỗ huyệt tối om khác, cậu Bảy kiểm thảo về cuộc sống đã qua, về
những đêm đàn hát vui chơi, về phong cách của mình những lúc sa cơ thất
thế. Chàng chắc cậu được hài lòng, mát mẻ.
- Võ Phiến - 3-1967
(Lời
người chép bài : Vì quá ưa thích bài này mà do độ dài của trang có hạn,
người chép bài đã mạn phép lược một số đoạn đánh dấu .... Xin cáo lỗi !) |