|
- Võ Phiến -
Ca
tụng cái bọt của chất nước ngọc? Trà là nước ngọc? Tốt lắm, nhưng còn
chút bọt kia, nó giữ vai trò gì ở đây? Ai cũng biết trong chén trà Tàu
bé bằng hạt mít, bậc đài các chỉ thưởng thức cái hương và cái vị của
một hớp nước mà thôi. Làm gì có bọt bèo trong đó? Bọt bèo rườm rà cũng
không có cả trong chén trà bột của người Nhật. Vả lại dù có dăm ba hạt
bọt, thì đó đâu phải là một yếu tố làm nên giá trị của trà? Nói đến làm
gì?
“Khát uống trà mai hương ngọt ngọt, Giấc nằm hiên nguyệt gió hiu hiu.” Đó, nói như cụ Trạng Trình thế là đúng điệu: Thưởng trà, khách tao nhân chú trọng nhất cái hương.
Còn
ham trà đến như ông Lư Đồng, uống trà mà ngon trớn đến như ông ta — làm
luôn một hơi bảy chén, đến nỗi gió dậy dưới nách ào ào — thế mà Lư Đồng
cũng không một lần đề cập đến bọt trà.
Có thể ngờ rằng những hạt
bọt trong chén trà Tàu đã tan đi từ mười lăm thế kỷ rồi. Các lối uống
trà khuấy (mạt trà) thịnh hành ở Nhật Bản, hay trà ngâm (diệp trà, tiễn
trà, yêm trà) như ở Trung Hoa từ đời Minh về sau, đều không đếm xỉa đến
bọt. Họa chăng hạt bọt được quí chuộng vào thời kỳ xa xưa của trà bánh
(đoàn trà) nấu với đủ các món gia vị lủng củng, nào gừng, nào hành, nào
vỏ quít, nào muối đó chăng?
Dẫu sao một hạt bọt trà dính trong
câu thơ Tàu lưu lạc từ hơn nghìn năm xưa quả không đủ sức làm dâng lên
sự suy tưởng trong một trí óc nặng nề. Sở dĩ tôi đã đâm ra nghĩ ngợi
chỉ vì những hạt bọt nọ còn dính trên mớ râu của một ông cụ người cùng
làng, cách đây không lâu.
Trong chỗ dân dã ở thôn quê miền Trung, người ta gọi nó là Chè, mà không gọi là Trà. Uống Trà Tàu là cái thú của hạng giàu sang; người bình dân thì uống Chè Huế.
Trà Tàu, pha theo lối Tàu. Chè
Huế nấu lối Huế. Lối Huế không giống lối nấu chè tươi hay chè khô ngoài
Bắc. Từ Huế, lần vào các tỉnh nam Trung phần, lối nấu chắc chắn cũng có
thay đổi ít nhiều; vì vậy các quán nước chè bên đường ngoài Huế thường
thấy có một chai nước cốt trữ sẵn, món đó không hề có ở vùng Nam Ngãi
Bình Phú...
Trong bếp của mọi gia đình ngoài Trung đều có đủ hai món đồ gốm dùng để nấu nước: cái ấm và cái om. Om dùng cho chè Huế.
Chiếc
om, hình thù nó như một trái sim lớn: nó tròn quay và miệng loe ra (như
tai sim). Vì om không có quai như ấm, như nồi, siêu, xoong, chảo v.v...
cho nên để nhắc nó người ta không thể dùng đôi đũa bếp: phải dùng cái
cặp.
Cặp om là một thanh tre cật, dài non sải tay, uốn cong gập làm đôi, vòng cong vừa ôm khít chỗ eo của miệng om.
Có
om có cặp, thế là đủ. Bỏ một vốc lá chè khô vào om, đổ nước vào, nổi
lửa lên. Nước sôi, sắp trào ra, thì lập tức chế thêm tí nước lã vào để
trấn nó xuống. Một chốc nó lại sôi bồng lên: lại tí nước lã nữa. Ba
bận, bốn bận như thế... Cần nhất phải kiên nhẫn: lửa không nên cháy hỗn
quá, nước chế thêm không nên nhiều quá, mỗi lần chút ít thôi. Có thế
chè pha ra bát mới tốt bọt được.
Chè nấu xong đến chuyện pha
nước. Bát bày sẵn bên bếp, trước tiên cho vào bát độ sáu bảy phần mười
nước lạnh. Xong, dùng cây cặp nhắc om lên, rót nước chè sôi vào bát cho
đến đầy.
A! Cái công việc rót nước ấy là cả một nghệ thuật đấy.
Hạ om thấp quá thì bát chè ít bọt: đưa lên cao quá thì sẽ làm nổi lên
những quả bong bóng to tướng. Bát nước kém bọt là hỏng, đã đành. Mà bọt
nổi bong bóng lớn cũng là chuyện vụng về mà người nội trợ tự trọng phải
cố tránh. Kẻ pha nước thông thạo biết chọn đúng cao độ cho om nước,
biết rót xuống một dòng nước vừa phải, không nghiêng trút mạnh quá
khiến bọt không tụ được, lại còn biết di động miệng om để phân phối bọt
cho đều khắp, biết ngắt dòng nước đúng lúc để rồi rót thêm chỗ này một
chút chỗ kia một tí, bổ di kịp thời vào những khoảng trống không đẹp
mắt v.v... Đến khi mọi sự đã viên thành, kẻ ấy gặc miệng om một cái
trước khi ngừng tay, biểu diễn sự hài lòng trong cử chỉ chấm dứt.
Bát nước ngon lành phải thật nhiều bọt, đầy bọt, bọt hầu như phủ kín mặt nước, thứ bọt dẻo quánh lại, và nhỏ hạt.
Pha
một bát nước vừa ý rồi mà phải đứa bé bưng nước không cẩn thận cũng
đáng bực mình lắm. Bưng bát nước đầy thế nào từ dưới bếp lên đến nhà
trên trao cho ông khách mà bọt không sánh ra ngoài, mà mặt nước không
dao động đến nỗi làm vỡ bọt: được thế mới gọi là không phụ công phu kẻ
nấu và pha nước.
Đến đây đã rõ: Bao nhiêu công phu như đều dồn vào một chủ đích: “... ngạnh ngọc bào”.
Ông
khách đón nhận bát nước, bưng trên tay, nhìn vào đám bọt tràn trề sung
mãn mà không cầm lòng được. Bọt nước long lanh rạng rỡ phản chiếu khuôn
mặt khách, lặp lại một vạn lần cái rạng rỡ ánh lên trong mắt khách.
Nghịch ngợm, khiêu khích nhau đến thế thì không chịu được. Khách cúi
đầu, chọn lựa một điểm thế thích nghi, chúm miệng thổi nhẹ để xua đuổi
lũ bọt nước tránh giạt ra, dọn một khoảng trống vừa đủ chỗ đặt môi. (Dĩ
nhiên, không một ai tính chuyện đớp mớ bọt nọ vào bụng!)
Bị
đuổi, lũ bọt vội vàng vẹt tránh ngay. Nhưng hễ khách vừa nhúng môi
xuống thì tất cả bọn chúng liền ập tới, bám riết quanh mép. Mực nước
càng xuống thấp chúng càng rủ nhau kéo đến dồn dập, chen nhau lấn nhau,
vỡ nổ lèo xèo trên môi trên mép của khách.
Có thể khách không
hay biết về những gì xảy đến cho lũ bọt: Khách đang ngon trớn mà. Và
tất cả sự khoái thích của việc uống chè Huế là ở trong cái trớn ấy.
Bát
nước đã có lót đến sáu, bảy phần nước lạnh cho nên pha đầy nước dù đang
sôi vào nó vẫn không quá nóng. Nó không như chén trà Tàu. Nó chỉ nóng
vừa đủ cái độ khiến khách có thể uống ồng ộc một hơi, uống luôn không
dừng, không ngẩng mặt lên, không rời môi khỏi miệng bát, cho đến cạn
bát mới thôi. Mà bát chè Huế thì phải biết nó là những thứ bát khổng
lồ. Hồi tiền chiến, người ta dùng bát Bài Thơ, bát Con Rồng: Một bàn
tay xòe rộng chỉ che vừa miệng bát. Trong thời kháng chiến, nhiều gia
đình thiếu thốn phải dùng đến những cái “vùa” đất: vùa chỉ thua bát ở
nước men chứ kích thước không thua sút tí nào. Bởi vậy cái ngon của trà
Tàu là cái ngon tiểu vẻ của hạng phong lưu đài các, cái ngon cầu kỳ
kiểu cách của một chút vị ngọt ở chót lưỡi, chút hương thoảng qua mũi
v.v...; còn cái ngon của chè Huế thì phàm tục thô bạo hơn, nhưng nó là
cái ngon khỏe mạnh, thích hợp với bản chất nông dân lao động.
Trà
Tàu để nhấp từng tí, là thứ trà của sự suy tưởng mơ màng. Còn chè Huế,
không ai uống nó mà uống từng hớp rời. Đã tợp vào là cứ thế thừa thắng
xông lên ào ào, cứ ráo riết dồn dập cho đến cùng.
Mà đến tận
cùng một bát Con Rồng thì bảy chén trà con của Lư Đồng thấm vào đâu.
Khách mà uống xong một bát chè Huế thì — theo ngôn từ nhà thơ Trung Hoa
— dưới mỗi bên nách tất phải nổi lồng lên một trận bão. Và — theo cái
lối mệnh danh của thời đại — có thể dưới nách bên này là một trận
Hélène, bên kia là Jackie chẳng hạn.
Uống chè như vậy đâu đến nỗi vô vị?
Ở
chỗ thôn quê nghèo nàn ngoài Trung, trong cái xã hội của hạng sống lam
lụ quanh mình, tôi chưa được nghe câu chuyện nào liên quan đến cái giới
uống trà Tàu. Đây đó chỉ nghe toàn những giai thoại về chè Huế. Anh Ba
Càng Cua mỗi sáng nhất định phải điểm tâm một bát thật đậm rồi mới ra
đồng cày bừa được, mà hễ đã uống nước rồi là khỏi cần ăn; ông Tư và ông
Tam Khoang vẫn cầm cự nhau suốt ba mươi năm nay: ông này mỗi lần hai
bát thì ông kia cũng vẫn giữ vững đủ hai bát mỗi lần; ở làng nọ có
người uống một lượt đến ba bát Bài Thơ; thôn kia có ông lão hai bát gặp
được chàng trai hai bát rưỡi, lấy làm khoái, gả ngay con gái cưng cho
v.v... Lại cũng không hiếm những câu truyền tụng về các bậc dị nhân ở
tổng này huyện nọ uống một mạch hoặc bốn bát, năm bát nước, hoặc cả om
nước. hoặc nửa vò nước v.v..., nhưng tôi ngờ rằng những chuyện đó thuộc
về huyền thoại.
Dầu sao trong thôn dã có huyền thoại về chè om,
về anh hùng chè lá, thì đủ biết om chè đã có địa vị nào đó trong cuộc
sống tinh thần của dân gian.
Riêng đối với ông Tam Khoang, nó có
vai trò trong cuộc đời tình cảm. Cũng như phần đông các tay cao thủ chè
om, ông Tam Khoang có vóc người dềnh dàng, lực lưỡng. Trong chỗ xa tít
nhất của ký ức tôi, ông đã có hai chòm râu mép. Ngày nay, trên bảy mươi
tuổi già, ông cụ bạc trắng cả râu mép lẫn râu cằm.
Hồi tôi còn
nhỏ, mỗi lần ông đến nhà, tôi thường lãnh việc bưng nước để được xem
ông uống. Ông thong thả, chững chạc, trông không có vẻ gì là một người
đang khát. Bưng tô nước lên tay, bao giờ ông cũng ngừng lại ngắm qua
một chút để đánh giá; nếu có đàn bà trong nhà ngồi gần đâu đấy, ông
không quên bình phẩm vắn tắt vài lời. Rồi thì bắt đầu: từ từ, không
chút vội vã, ông uống cạn một bát, bình thản chờ đợi, rồi lại uống cạn
một bát khác... Khi ông Tam Khoang ngẩng đầu lên lần thứ hai thì rất
nhiều bọt trắng đã đeo lấy hai vệt râu mép. Tôi thích chí, chỉ chỏ: ông
nở một nụ cười hiền lành, đưa tay áo quệt ngang một cái, rồi dùng hai
ngón tay — ngón cái và ngón trỏ — vẹt sửa lại bộ râu.
Tôi chắc
chắn không có một lần uống nào ông không bị lũ bọt chè quấy rầy bộ râu
ấy; nhưng cũng không có lần nào đối với chúng ông không có cử chỉ khoan
hòa.
Trước con mắt trẻ thơ của tôi bấy giờ, một con người đã
thực hiện cái kỳ công là nuốt trọn hai bát nước to tướng như thế, với
một vẻ vừa đĩnh đạc khả kính lại vừa giản dị khiêm nhường như thế, có
vẻ đẹp riêng. Tôi ao ước mơ tưởng một ngày nào đó trong đời có thể học
được cái phép làm một dị nhân từ tốn độ lượng kiểu ấy, để cho lũ bạn bè
chúng nó lác mắt ra, vừa kinh hãi vừa cảm phục trong lòng. Cho đến ngày
nay thì tôi đã chắc chắn đến mười phần là trọn đời mình không sao có
được cái phép lạ ấy trong khi ông Tam Khoang vẫn đều đều mỗi ngày tái
diễn ba bốn lần.
Do đó, tôi hoàn toàn cảm thông cái tâm sự của
bà Tư. Bà có người chồng xuất sắc: ông Tư có tài uống một hơi hai bát
chè. Nhưng bà không cầm lòng được trước phong thái của ông Tam Khoang.
Từ hơn ba mươi năm trước, trong chỗ chòm xóm với nhau người ta thường
gặp ông Tam Khoang đến chơi nhà ông Tư, chủ khách mỗi đàng hai bát nước
xong, mặt mày thỏa thuê tươi rạng, đàng nào lặng lẽ mân mê ve vuốt râu
mép của đàng ấy... Tất nhiên không phải là một cuộc đấu râu. Đây là sự
gặp gỡ của hai kẻ đàn ông nơi lòng mến mộ của một người đàn bà.
Đối
với mối tình tay ba ấy bà con làng xóm không có lời chỉ trích nghiêm
khắc, chỉ có những giễu cợt khúc khích. Mối tình cứ thế kéo dài suốt
ba, bốn chế độ chính trị, suốt đôi ba mươi năm ly loạn.
Cho đến
ba năm trước đây thì xảy ra một biến cố: gia đình ông Tam Khoang quyết
định tản cư lên tỉnh lỵ, gia đình ông Tư ở lại làng. Thật là tan tác,
bi ai. Tuy nhiên rồi sau đó người ta thấy rõ lòng người vẫn thắng
nghịch cảnh: đôi ba tháng một lần ông Tam Khoang tìm được dịp về làng,
ghé chơi nhà ông Tư.
Ghé chơi ông Tư, một mặt công khai chủ
khách hể hả uống bốn bát nước chè, một mặt kín đáo ông Tam Khoang giúi
cho bà Tư hoặc một xấp lãnh nhuộm đen bằng mặc nưa ở biên giới, hoặc
một cái quần xa-teng Mỹ A v.v... Chỗ tỉnh lỵ coi vậy mà có lắm sáng
kiến cung cấp cho ông nhiều lý do chính đáng để ông quyết định những
chuyến về làng mạo hiểm. (Phải, đã ra tỉnh lại trở về làng là một
chuyện nguy hiểm mà đám con cháu ông Tam Khoang tìm mọi cách để can
ngăn.)
Ông Tam Khoang mạo hiểm hơn một năm trời như thế rồi thì
rốt cuộc gia đình ông Tư cũng dọn lên tỉnh. Lại đề huề, lại sum vầy.
Ôi, cái cảnh sum vầy mới ngộ nghĩnh làm sao. Trong chuyến gặp nhau gần
đây nhất, tôi được biết bây giờ giữa hai ông cụ có sự khắng khít như
chưa bao giờ mật thiết đến thế: không ngày nào ông Tam Khoang không có
mặt tại nhà ông Tư đủ hai buổi sớm chiều. Có thể giải thích rằng trong
cảnh xa lạc xóm làng những cụ già bơ vơ giữa đô thị thường tìm đến nhau
như tìm về dĩ vãng của mình. Nhưng lý do cụ thể hơn hết, lý do sờ mó
được, ấy là chiếc om chè.
Đúng thế, cách đây nửa năm, chiếc om
nhà ông Tam Khoang bị vỡ, và ông không thể tìm mua ở đâu cho được chiếc
om khác thay thế. Om đất bây giờ đã biến mất trên thị trường. Om đất đã
chết không kèn không trống, không một lời báo trước; vì vậy không ai
được biết để mà phòng bị, tích trữ. Và một người đã uống chè Huế hơn
nửa thế kỷ như ông Tam Khoang chẳng lẽ nay lại đi nấu chè trong cái
niêu đồng? Vậy sự hiện diện thường trực của ông tại nhà ông Tư là một
sự chính đáng.
Trong những ngày cuối cùng của cuộc sống, mặc dù
cảnh đời ly loạn, hai ông cụ vẫn tiếp tục ngày ngày cúi xuống thổi
những tảng bọt ngon lành nổi trên bát nước trao lên từ đôi bàn tay thân
yêu nhăn nheo: cứ như thế họ hưởng hạnh phúc. Tôi hỏi thăm:
- Thưa, các cụ vẫn uống được hai bát như xưa...
Hai ông cụ tranh nhau đáp: - Cám ơn ông Hai. Nhờ trời vẫn đủ hai bát mỗi lần.
Trên
môi ông Tam Khoang nở một nụ cười kín đáo, man mác. Tuy vậy người ta
cũng nhận thấy về già ông mất đi cái khiêm nhường đáng yêu của một
người tự tin: về già - dù kín đáo - ông lại không giấu được một chút
kiêu hãnh. Sự mất tích của chiếc om đất không chỉ có tác dụng làm khắng
khít một mối tình già. Tôi lo rằng sự mất tích ấy cũng có thể gây ra
đôi điều không hay.
Không phải các dân tộc nhất thiết phải gìn
giữ mãi mãi các phong tục ăn uống. Trong lịch sử, người Trung Hoa đã
lần lượt trải qua những cách uống trà khác nhau hoàn toàn; có sao đâu?
Lại còn nhờ thế mà họ tiến được đến những bình trà Thiết Quan Âm, Bạch
Mao Hầu v.v... danh tiếng ngày nay, chắc chắn là hơn hẳn món trà uống
với muối gừng xưa kia.
Nhưng trong trường hợp của chè Huế, dường như đây không phải là một biến chuyển để tiến tới. Trái lại.
Đất
Bình Định từng ghi được nhiều thành tích về trà. Trong cuốn sách viết
về chỗ quê hương, thi sĩ Quách Tấn có nói đến thứ khổ trà ở miền An Lão
Hoài Ân, thứ trà quí được vua chúa thích một thời. Trong đoạn hồi ký về
chuyến ghé Nam kỳ năm 1778, một nhà hàng hải người Anh tên Chapman đã
chú ý đến ngành buôn bán trà đang hồi cực thịnh tại đây: từ hải cảng
Qui Nhơn cho đến hoàng thành của Nguyễn Nhạc, dọc đường nơi nào cũng
thấy những cửa tiệm bán trà.
Có lẽ cả thứ trà dâng cho vua
Nguyễn Gia Miêu cũng như thứ trà thịnh phát dưới triều Nguyễn Tây Sơn
đều là trà pha chế lối Tàu. Còn chè Huế sau này thì không còn ai dâng
vua, cũng không hề được bày bán trong tiệm: người ta chỉ bán chè Huế ở
chợ, hay bán rong dạo xóm dạo làng... Thời của trà vua chúa đã qua, đến
thời của chè om cho dân dã, cũng được chứ sao. Nhưng bây giờ om cặp lại
mất tích, rồi sắp hóa sinh ra thứ chè gì nữa đây? Cứ sự thể này thì
hình như chè om tính đi luôn vào lịch sử không để lại thừa kế, không
lưu vết tích. Thay thế cho nước chè, rồi sẽ có những thứ khác, thiếu
gì. Các người làm văn hóa dân tộc đang ngậm ống nhựa hút tùn tụt những
ly pepsi, coca v.v... không thấy đó sao? Thật tốt, thật hợp vệ sinh.
Có
điều một người Nhật Bản, ông Okakura Kakuzo, đã mỉa mai nhẹ nhàng một
vị huấn cổ học giả đời Minh bên Tàu khi ông này lúng túng không biết
giải thích thế nào về hình dáng chiếc “trà tiễn” được nói đến trong một
tác phẩm đời Tống. Sự lúng túng ấy gần mang ý nghĩa sỉ nhục, khi một
bậc trí thức Trung Hoa quên mất cả phong tục tập quán của dân tộc mình
sau một thời gian bị quân Mông Cổ cai trị.
“Trà tiễn” là món có
công dụng rõ rệt mà người đời còn quên nó, huống hồ “trà bào”! Thật
vậy, cái om, cái cặp, và đặc biệt là cái bọt chè, rất có thể là những
tai họa cho các vị huấn cổ học giả nước nhà trong tương lai. Năm ba
mươi năm sau, nói đến sự thích thú trước một bát nước chè đầy bọt thì
còn hiểu thế quái nào được? thì các bậc học giả dám ngẩn tò te lắm chứ.
Trà tiễn để mà khuấy, chứ còn bọt chè dùng để làm gì? Không uống được,
không ngửi được, không nếm được v.v... nó thành ra cả một sự bí hiểm,
một sự thách đố đối với các nhà nghiên cứu. Ẩm giả yêu bọt chỉ vì bọt
sao chớ? Cũng như nghệ thuật vị nghệ thuật vậy sao?
Bởi thế, trước khi bọt chè tan vỡ tiêu tùng hết, nên có đôi lời ghi chép về chút chuyện bọt bèo.
- Võ Phiến - ( Tùy Bút ) |